Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tháng 10/2017 cả nước xuất khẩu 79.078 tấn cà phê, đạt kim ngạch 184,77 triệu USD (giảm 0,5% về lượng và giảm 1,4% về kim ngạch so với tháng 9/2017. Tính chung cả 10 tháng đầu năm 2017 cả nước xuất khẩu 1,18 triệu tấn cà phê, thu về trên 2,71 tỷ USD (giảm 22% về lượng và giảm 1,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016).

Cà phê của Việt Nam xuất khẩu sang Đức nhiều nhất, chiếm 14,9% trong tổng lượng cà phê xuất khẩu của cả nước và chiếm 14,3% trong tổng kim ngạch; đạt 176.350 tấn, trị giá 387,11 triệu USD (giảm 26,7% về lượng và giảm 7,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016).

Đứng thứ 2 là thị trường Mỹ, chiếm 12,9% trong tổng lượng và chiếm 12,8% trong tổng kim ngạch; đạt 152.696 tấn, trị giá 346,82 triệu USD (giảm 23% về lượng và giảm 4,4% về giá trị so với cùng kỳ);

Sau đó là thị trường Italia chiếm 9,1% trong tổng lượng và chiếm 8,7% trong tổng kim ngạch; đạt 107.248 tấn, trị giá 235,51 triệu USD (giảm 8,1% về lượng nhưng tăng 15,6% về kim ngạch)

Cà phê Việt Nam xuất khẩu sang khối các nước EU chiếm 43,5% trong tổng lượng và chiếm 42% về kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước; đạt 514.197 tấn, trị giá 1,14 tỷ USD. Xuất sang các nước Đông Nam Á chỉ chiếm 8% trong tổng lượng và tổng kim ngạch cà phê của cả nước, đạt 94.435 tấn, trị giá 218,23 triệu USD. 

Trong 10 tháng đầu năm nay, xuất khẩu cà phê sang phần lớn các bị sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, xuất sang Thụy Sỹ giảm mạnh nhất, giảm 89,6% về lượng và giảm 86,9% về kim ngạch; Bên cạn đó, thị trường Nam Phi cũng giảm tới 77% về lượng và giảm 71% về kim ngạch; Indonesia giảm 65,5% về lượng và giảm 41,6% về kim ngạch; Ai Cập giảm 45,4% về lượng và giảm 26,3% về kim ngạch.

Tuy nhiên, cà phê xuất sang thị trường NewZealand lại tăng rất mạnh 51,5% về lượng và tăng 121,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; mặc dù chỉ đạt 944 tấn, tương đương 2,19 triệu USD.

Giá cà phê xuất khẩu trung bình 10 tháng đầu năm đạt 2.290 USD/tấn (tăng trên 26% so với cùng kỳ năm ngoái); trong đó, xuất sang Campuchia được giá cao nhất 4.528 USD/tấn, tăng 4,5%; xuất sang Ấn Độ, Ai Câp, Mexico có giá thấp nhất, chỉ khoảng trên 2.000 USD/tấn.

Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa) cho biết: Hiện nay, có gần 90% cà phê XK dưới dạng cà phê nhân, còn trên 10% là cà phê rang xay, hòa tan. Nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thị trường thế giới vẫn tăng. Việt Nam đã XK cà phê tới 140 nước và vũng lãnh thổ và sản phẩm cà phê đều được các thị trường chấp nhận. Bởi vậy, khối lượng cà phê XK sụt giảm trong năm nay không liên quan gì tới khó khăn thị trường hay chất lượng cà phê Việt mà chủ yếu bởi năm trước hạn hán, mất mùa, sản lượng cà phê giảm. Ngoài ra, thời gian qua, mức độ tiêu dùng cà phê trong nước tăng lên khiến XK cà phê nhân giảm đi.

Về mặt giá cả, Việt Nam đang là một trong những quốc gia có giá bán cà phê khá cạnh tranh vì năng suất cà phê cao. Mỗi ha có năng suất khoảng 2,4 tấn/ha, trong khi đó năng suất cà phê bình quân thế giới chỉ dưới 2 tấn/ha. Dự báo, trong cả năm nay, XK cà phê lần lượt đạt giá trị 3 tỷ USD và khối lượng 1,3 triệu tấn.

Xuất khẩu cà phê 10 tháng đầu năm 2017

 

Thị trường

10T/2017

(%) so sánh 10T/2017 với cùng kỳ

Tấn

USD

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

1.182.038

2.706.685.555

-22,14

-1,84

Đức

176.350

387.113.691

-26,69

-7,68

Mỹ

152.696

346.820.581

-23,16

-4,42

Italia

107.248

235.511.580

-8,08

15,58

Tây Ban Nha

83.409

183.351.458

-17,47

1,44

Nhật Bản

75.899

179.836.852

-14,69

6,74

Bỉ

53.359

115.457.010

-6,59

10,58

Algeria

44.405

97.182.556

-22,2

-1,24

Nga

35.573

94.100.734

-31,65

-5,87

Philippines

40.789

87.434.585

-19,49

-7,62

Ấn Độ

35.045

71.294.042

-6,65

13,6

Hàn Quốc

29.202

69.868.285

13,37

40,86

Thái Lan

29.953

69.362.521

-14,23

6,45

Trung Quốc

23.301

69.102.195

-41,55

-22,22

Mexico

32.422

67.364.185

-31,53

-15,73

Anh

26.638

62.223.463

-33,13

-10,85

Pháp

28.214

59.281.708

-16,45

2,93

Malaysia

15.459

36.163.519

-39,46

-23,9

Ba Lan

10.422

28.262.820

-19,06

6,22

Australia

9.712

23.488.940

-29,79

-10,43

Hà Lan

9.369

22.821.452

-31,58

-10,08

Bồ Đào Nha

10.084

22.229.041

-8,24

15,91

Israel

4.989

17.227.072

-29,32

0,26

Indonesia

5.951

17.085.106

-65,51

-41,56

Ai Cập

6.714

13.813.509

-45,42

-26,25

Canada

4.975

11.570.663

-16,19

3,35

Romania

3.671

10.732.276

-12,97

22,09

Hy Lạp

4.343

9.520.649

-31,74

-16,58

Singapore

1.958

6.716.158

3,22

1,52

Nam Phi

2.105

4.421.274

-77,41

-71,41

Đan Mạch

1.090

2.391.701

-30,66

-8,28

New Zealand

944

2,193,337

51,52

121,36

Campuchia

325

1,471,691

22,18

27,63

Thụy Sỹ

389

866,554

-89,62

-86,89