Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng gia công, lắp ráp tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 25,0 tỷ USD, tăng 8,6%; dệt may đạt 17,9 tỷ USD, tăng 5,9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 12,9 tỷ USD, tăng 13,7%; giày dép đạt 9,4 tỷ USD, tăng 7,9%. Một số mặt hàng nông sản và nguyên liệu thô có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Gạo đạt 1,7 tỷ USD, giảm 12,4% (lượng giảm 16,3% và giá xuất khẩu bình quân giảm 3%); dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 43,3% (lượng giảm 25% và giá xuất khẩu bình quân giảm 31,5%); sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 762 triệu USD, giảm 24,8% (lượng giảm 11,4%); sản phẩm hóa chất đạt 683 triệu USD, giảm 1,1%.
Về thị trường xuất khẩu 9 tháng năm 2016, Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với 28,3 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực sang thị trường này tăng: Dệt may tăng 4,2%; giày dép tăng 10,9%; điện thoại và linh kiện tăng 51,6%; thủy sản tăng 11,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 29,1%. Tiếp đến là EU đạt 24,6 tỷ USD, tăng 9,5%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 6%; giày dép tăng 8%; dệt may tăng 7%; hạt điều tăng 21,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 19,9%; cà phê tăng 18,8%. Thị trường Trung Quốc đạt 14,8 tỷ USD, tăng 19,1%, trong đó thủy sản tăng 49,3%; rau quả tăng 39,3%; dệt may tăng 24,7%; giày dép tăng 21,8%; điện thoại và linh kiện tăng 76,2%. Thị trường Nhật Bản đạt 10,7 tỷ USD, tăng 3,2%; Hàn Quốc đạt 8,3 tỷ USD, là thị trường có tốc độ tăng mạnh nhất với 29,9%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 110%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 73,4%; rau quả tăng 30,4%. Riêng thị trường ASEAN được kỳ vọng tăng xuất khẩu, nhưng kim ngạch chỉ đạt 12,5 tỷ USD, giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện giảm 5%; phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 27,2%; sắt thép giảm 27,7%.
Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm nay ít biến động so với cùng kỳ năm trước: Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 58,8 tỷ USD, tăng 6,9% và chiếm 45,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2015); nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 51,2 tỷ USD, tăng 6,6% và chiếm 39,9% (giảm 0,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản (đạt 13,2 tỷ USD, tăng 6,5% và chiếm 10,3% kim ngạch) và hàng thủy sản (đạt 5 tỷ USD, tăng 5,7%, chiếm 3,9%) cơ cấu không thay đổi so với cùng kỳ năm 2015.
Nguồn: vietnamexport.com