Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Nga trong tháng 6/2019 giảm 2,09% so với tháng 5/2019 nhưng tăng 3,48% so với tháng 6/2018.
Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 6/2019, kim ngạch xuất sang thị trường Nga đạt 1,41 tỷ USD, tăng 13,64% so với cùng kỳ năm 2017 – đây cũng là một trong những thị trường truyền thống của Việt Nam và khá “dễ tính” trong khâu tuyển chọn mẫu mã, chất lượng so với nhiều nước châu Âu.
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nga chủ yếu các mặt hàng như gạo, hàng dệt may, cà phê, thủy sản, rau quả, hạt điều… trong đó điện thoại các loại và linh kiện là mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất, chiếm 45,26% tỷ trọng, đạt 639,66 triệu USD, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm 2018, riêng tháng 6/2019 cũng đã xuất sang thị trường Nga 102,04 triệu USD tăng 5,47% so với tháng 5/2019 và tăng 5,61% so với tháng 6/2018.
Đứng thứ hai là mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 158,98 triệu USD, tăng 68,44% so với 6 tháng năm 2018, riêng tháng 6/2019 đạt 31,37 triệu USD, tăng 25,26% so với tháng 5/2019 và tăng 7,1% so với tháng 6/2018. Kế đến là các mặt hàng dệt may, cà phê, giày dép, thủy sản….
Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sang thị trường Nga các mặt hàng đều có tốc độ tăng trưởng chiếm 80%.
Đáng chú ý, nếu như cùng kỳ năm 2018 Nga tăng mạnh nhập khẩu mặt hàng sắt thép từ Việt Nam, thì 6 tháng đầu năm nay nhóm hàng thủ công mỹ nghệ tăng mạnh vượt trội, theo đó Nga tăng nhập khẩu mặt hàng sản phẩm từ mây tre cói và thảm từ Việt Nam với mức tăng gấp trên 2 lần (tức tăng 107,5%) tuy kim ngạch chỉ đạt 1,3 triệu USD.
Ngoài ra, Nga cũng tăng mạnh nhập khẩu mặt hàng gạo từ Việt Nam – đây cũng là mặt hàng với tốc độ tăng mạnh đứng thứ hai sau sản phẩm mây tre cói. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2019 Nga đã nhập 11,4 nghìn tấn gạo, trị giá 4,74 triệu USD, tăng 89,27% về lượng và tăng 79,25% về trị giá với mức giá bình quân 415,23 USD/tấn, giảm 5,3%; riêng tháng 6/2019, Nga cũng đã nhập 2,8 nghìn tấn gạo, trị giá 1,25 triệu USD, giá bình quân 442,58 USD/tấn, tăng gấp 2,5 lần về lượng (tức tăng 151,69%) và gấp 2,6 lần về trị giá (tức tăng 164,7%), giá tăng 5,17% so với tháng 5/2019, nếu so với tháng 6/2018 thì giá bình quân giảm 14,33% nhưng lượng tăng gấp hơn 8 lần (tức tăng 772%) và trị giá gấp 7,5 lần (tức tăng 647,03%).
Ở chiều ngược Nga giảm mạnh nhập khẩu sắt thép từ Việt Nam, cụ thể giảm 32,08% về lượng và 34,84% về trị giá, tương ứng với 3,6 nghìn tấn, trị giá 3,6 triệu USD, với giá bình quân 1004,29 USD/tấn, giảm 4,07%.
Hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Nga 6 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

6 tháng năm 2019

+/- so với cùng kỳ năm 2018 (%)*

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng

 

1.413.302.028

 

13,64

Điện thoại các loại và linh kiện

 

639.666.650

 

5,08

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

158.984.612

 

68,44

Hàng dệt, may

 

131.868.876

 

70,42

Cà phê

46.010

86.263.997

-1,27

-12,95

Giày dép các loại

 

75.197.834

 

40,15

Hàng thủy sản

 

47.713.980

 

6,81

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

 

42.213.510

 

-2,33

Hạt điều

3.845

28.916.951

20,34

-5,41

Xăng dầu các loại

24.020

18.025.286

6,49

4,13

Hàng rau quả

 

13.897.249

 

-21,18

Chè

6.541

10.055.657

-10,59

-8,72

Sản phẩm từ chất dẻo

 

8.728.733

 

-0,95

Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù

 

8.318.627

 

-18,02

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

 

6.790.561

 

8,7

Hạt tiêu

2.851

6.363.922

29,3

-0,92

Gạo

11.434

4.747.745

89,27

79,25

Cao su

3.201

4.659.031

-18,94

-20,68

Sắt thép các loại

3.619

3.634.543

-32,08

-34,84

Gỗ và sản phẩm gỗ

 

2.913.275

 

9,83

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

 

2.846.222

 

2,5

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

 

1.315.087

 

107,5

Sản phẩm từ cao su

 

1.111.916

 

-11,66

Sản phẩm gốm, sứ

 

656.794

 

-8,93

(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
Nguồn:VITIC tổng hợp