Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam (sau Trung Quốc , Hàn Quốc và Hoa Kỳ), 7 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất nhập khẩu giữa 2 nước đã đạt 16,11 tỷ USD (giảm nhẹ 2,67% so với cùng kỳ năm ngoái); trong đó xuất khẩu sang Nhật đạt 7,95 tỷ USD (giảm 0,7%), nhập khẩu từ Nhật trị giá 8,15 tỷ USD (giảm 4,5%); tức là Việt Nam nhập siêu trên 200 triệu USD từ thị trường Nhật.

Những nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sang Nhật là: hàng dệt may (1,55 tỷ USD, chiếm 19,5%), phương tiện vận tải (1,04 tỷ USD, chiếm 13%), máy móc thiết bị (849 triệu USD, chiếm 10,7%), gỗ và sản phẩm gỗ (553,5 triệu USD, chiếm 7%), thủy sản (537,9 triệ USD, chiếm 6,8%), giày dép (411,5 triệu USD, chiếm 5,2%).

Việt Nam nhập khẩu từ Nhật chủ yếu là: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng  (2,35 tỷ USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (1,37 tỷ USD), sắt thép (680,77 triệu USD), Linh kiện, phụ tùng ô tô  (427,61 triệu USD), vải may mặc (354,27 triệu USD), sản phẩm nhựa (352,57 triệu USD).

Mới đây, đoàn đại biểu Ủy ban Kinh tế Nhật - Việt thuộc Liên đoàn Kinh tế Nhật Bản (Keidanren) đã sang thăm và làm việc tại Hà Nội. Thủ tướng đánh giá cao sự đóng góp của Ủy ban Kinh tế Nhật - Việt trong việc cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam, là cầu nối giúp các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư nhiều hơn vào Việt Nam, góp phần đưa quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước phát triển tốt đẹp trên mọi lĩnh vực.

Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và ủng hộ, tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư thành công tại Việt Nam. Các dự án của Nhật Bản cơ bản triển khai hiệu quả và nghiêm túc. Kết quả này có sự đóng góp rất quan trọng của Keidanren trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước.

Thủ tướng hy vọng, thời gian tới với sự đóng góp của Keidanren sẽ tạo ra làn sóng đầu tư lớn, chất lượng hơn nữa từ Nhật Bản vào Việt Nam. Chính phủ Việt Nam mong muốn thời gian tới, việc hợp tác giữa hai bên trong khuôn khổ Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản sẽ được nâng lên tầm cao mới, không chỉ giải quyết những kiến nghị của doanh nghiệp Nhật Bản mà còn bao gồm các vấn đề mà cơ quan quản lý nhà nước quan tâm và cần sự hỗ trợ từ phía doanh nghiệp Nhật Bản. Thủ tướng cũng khẳng định, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp cục cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường đầu tư, coi thành công của các nhà đầu tư Nhật Bản chính là thành công của mình.

Trong vòng 3 năm qua, số lượng doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư sang Việt Nam tăng nhiều nhất trong số các điểm đến đầu tư của Nhật Bản trong ASEAN - một khu vực phát triển năng động nhất thế giới. Hiện có hơn 1.500 doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư, làm ăn tại Việt Nam. Keidanren đánh giá, Việt Nam có vị trí quan trọng đối với các doanh nghiệp Nhật Bản, điểm hấp dẫn của Việt Nam là lao động dồi dào, cần cù, thông minh. Việt Nam có lợi thế là cửa ngõ của ASEAN, hội nhập quốc tế sâu rộng, như tham gia Hiệp định TPP. Hiện Việt Nam đang phát huy lợi thế của mình trong việc tham gia TPP nhất là lĩnh vực dệt may. Bên cạnh TPP, các hiệp định thương mại ở khu vực như Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) cũng có vai trò hết sức quan trọng. Keidanren kỳ vọng điều này sẽ tạo ra tiến triển mới trong quan hệ hợp tác với Nhật Bản.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu sang Nhật 7 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Mặt hàng

7T/2016

7T/2015

+/- (%) 7T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

7.952.223.984

8.010.235.303

-0,72

Hàng dệt may

1.548.646.982

1.483.224.257

+4,41

Phương tiện vận tải và phụ tùng

1.037.755.682

1.095.019.445

-5,23

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

848.996.179

819.181.519

+3,64

Gỗ và sản phẩm gỗ

553.479.277

564.311.473

-1,92

Hàng thuỷ sản

537.856.276

553.036.119

-2,74

Giày dép các loại

411.472.796

354.156.598

+16,18

Máy vi tính,sản phẩm điện tử và linh kiện

342.339.783

281.468.397

+21,63

sản phẩm từ chất dẻo

287.024.290

262.818.136

+9,21

Điện thoại các loại và linh kiện

208.519.175

30.773.309

+577,60

Túi xách, ví, va li, mũ ô dù

208.105.251

183.276.490

+13,55

sản phẩm từ sắt thép

155.862.899

147.793.592

+5,46

Hóa chất

139.407.958

152.154.200

-8,38

Kim loại thường và sản phẩm

136.821.988

109.264.014

+25,22

Dây điện và dây cáp điện

122.694.708

106.400.294

+15,31

Cà phê

121.795.400

106.186.943

+14,70

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

112.335.462

84.401.835

+33,10

Dầu thô

59.983.826

463.140.276

-87,05

sản phẩm hoá chất

57.529.360

58.594.226

-1,82

Thuỷ tinh và các sản phẩm từ thuỷ tinh

51.473.950

65.737.170

-21,70

sản phẩm từ cao su

51.463.217

42.889.254

+19,99

Gíây và các sản phẩm từ giấy

48.187.675

44.533.716

+8,20

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

45.377.034

20.823.318

+117,91

Hàng rau quả

42.103.100

42.762.714

-1,54

Sản phẩm gốm sứ

41.322.192

43.990.526

-6,07

Nguyên phụ liệu dệt may, da giày

40.537.804

34.743.792

+16,68

Đá quí, kim loại quí và sản phẩm

29.306.500

26.332.017

+11,30

Xơ sợi dệt các loại

26.347.094

30.055.810

-12,34

Sản phẩm mây, tre, cói thảm

22.913.003

24.930.049

-8,09

Vải mành, vải kỹ thuật khác

21.333.672

22.274.340

-4,22

Bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc

19.971.499

17.002.336

+17,46

Hạt tiêu

16.852.766

18.899.200

-10,83

Than đá

15.802.276

42.622.809

-62,93

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

13.465.180

31.616.750

-57,41

Hạt điều

12.411.580

16.686.140

-25,62

Sắn và sản phẩm từ sắn

11.439.323

14.383.037

-20,47

Cao su

8.870.260

9.623.085

-7,82

Quặng và khoáng sản khác

6.952.537

11.781.731

-40,99

Chất dẻo nguyên liệu

5.335.735

8.561.754

-37,68

sắt thép các loại

3.383.891

2.031.377

+66,58

Phân bón

718.050

900.581

-20,27