Kim ngạch xuất khẩu sang Australia sụt giảm là do kim ngạch xuất khẩu dầu thô sụt giảm mạnh tới 75% so với cùng kỳ năm.

Nếu không tính dầu thô, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng phi dầu thô tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, một số mặt hàng có mức tăng trưởng khá tốt như máy ảnh, máy quay phim tăng 459,1%, các sản phẩm từ sắt thép tăng 151,3%, nguyên vật liệu dệt  may, da giày tăng 91,5%, sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ tăng 59,6%, sắt thép tăng 50,4%, bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc tăng 32,7%, rau quả tăng 29,3%...

Australia có nền kinh tế phát triển, nhu cầu nhập khẩu thủy sản lớn... Australia thực sự là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Hàng năm, Australia NK khoảng 200.000 tấn thủy sản, trong đó Việt Nam chiếm khoảng 1/4. Trong 5 tháng đầu năm, XK thủy sản sang Australia đạt 63,73 triệu USD, chiếm 2,78% tổng kim ngạch. Hiện Australia là thị trường NK lớn thứ 7 của thủy sản Việt Nam.

Ông Norman Grant - Chủ tịch Hiệp hội NK Thủy sản Australia (SIAA) cho biết, tôm là mặt hàng thủy sản XK nhiều nhất sang Australia. Đối với cá tra, hiện Australia NK khoảng 15.000 tấn/năm, thời gian tới dự kiến tăng lên 100.000 tấn/năm. Đây là cơ hội cho thủy sản Việt Nam đẩy mạnh XK.

Theo Hiệp hội Chế biến và XK thủy sản Việt Nam (VASEP), các DN thủy sản Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi khi đẩy mạnh XK sang thị trường này, chẳng hạn như: Mức thuế XK hiện nay là 0%; chính sách thương mại và thuế khá minh bạch. Tuy nhiên, những thông tin sai sự thật của truyền thông nước ngoài về tôm, cá của Việt Nam không được nuôi trồng bảo đảm VSATTP hay dư lượng kháng sinh quá cao chính là rào cản lớn nhất khi thâm nhập sang thị trường này.

Theo đó, VASEP khuyến cáo, các DN Việt Nam muốn phát triển thị phần tại Australia, cần phải tìm hiểu kỹ và đặc biệt chú trọng đến việc đảm bảo chất lượng hàng hóa; tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra các cơ sở, hộ nuôi cung cấp nguyên liệu về việc sử dụng hóa chất, kháng sinh đúng quy định.

Thương vụ Việt Nam tại Australia cho biết, ngành thủy sản Việt Nam cần đẩy mạnh 3 biện pháp để tăng XK vào thị trường này, đó là: Đảm bảo VSATTP; tăng cường hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại; tuyên truyền quảng bá, giới thiệu sản phẩm. Song song với đó, nên đẩy mạnh XK sản phẩm bán thành phẩm, thành phẩm vì người tiêu dùng Australia thường không muốn mất nhiều thời gian trong khâu chế biến. Điều này vừa giúp đa dạng hóa sản phẩm XK, tăng khả năng thâm nhập thị trường, vừa nâng cao giá trị gia tăng.

Bàn về biện pháp gia tăng XK thủy sản của Việt Nam sang Australia, ông Norman Grant nhấn mạnh, đầu tư cho tuyên truyền, quảng bá chất lượng sản phẩm thủy sản của Việt Nam tại thị trường Australia là rất cần thiết. Người dân Australia bị ảnh hưởng bởi một số thông tin sai lệch về sản phẩm thủy sản Việt Nam và đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều sản phẩm thủy sản chất lượng tốt của Việt Nam chưa xuất hiện nhiều trên bàn ăn của các hộ gia đình.

Australia là thị trường NK thủy sản đầy tiềm năng bởi hàng năm nước này phải NK 70% lượng thủy sản cho tiêu dùng nội địa. Trong 10 năm tới, thị trường này có thể NK thêm 1 triệu tấn thủy sản mới đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu sang Australia 5 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Mặt hàng

5T/2016

5T/2015

+/- (%) 5T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

1.089.920.744

1.288.632.876

-15,4

Điện thoại các loại và linh kiện

276.008.256

275.799.791

+0,1

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

98.774.112

93.304.781

+5,9

Dầu thô

88.561.263

353.852.694

-75,0

Giày dép các loại

73.036.161

65.161.184

+12,1

Hàng dệt, may

63.736.774

54.859.949

+16,2

Hàng thủy sản

63.726.600

60.320.527

+5,6

Gỗ và sản phẩm gỗ

57.472.732

53.447.234

+7,5

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

45.515.903

61.275.219

-25,7

Hạt điều

41.795.645

41.583.258

+0,5

Sản phẩm từ sắt thép

24.651.751

9.808.486

+151,3

Kim loại thường khác và sản phẩm

24.197.969

23.039.998

+5,0

Phương tiện vận tải và phụ tùng

20.101.765

15.775.986

+27,4

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

18.920.154

16.975.618

+11,5

Sản phẩm từ chất dẻo

15.413.987

15.879.840

-2,9

Cà phê

12.354.669

13.609.539

-9,2

Giấy và các sản phẩm từ giấy

9.614.640

10.480.843

-8,3

Sắt thép các loại

8.439.634

5.610.970

+50,4

Hàng rau quả

8.686.220

6.717.139

+29,3

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

7.833.847

4.907.403

+59,6

Hạt tiêu

7.489.743

6.477.205

+15,6

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

6.905.112

6.149.858

+12,3

Clanhke và xi măng

6.640.414

6.930.893

-4,2

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

6.012.987

4.530.614

+32,7

Sản phẩm hóa chất

5.301.969

4.914.648

+7,9

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

4.634.294

5.762.834

-19,6

Sản phẩm từ cao su

3.871.351

4.168.908

-7,1

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

3.738.152

1.952.169

+91,5

Sản phẩm gốm, sứ

3.608.015

3.879.665

-7,0

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

2.639.576

3.467.249

-23,9

Dây điện và dây cáp điện

2.094.778

3.544.030

-40,9

Gạo

1.854.099

1.968.677

-5,8

Chất dẻo nguyên liệu

1.322.688

1.871.951

-29,3

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

339.837

60.779

+459,1