Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 9 tháng đầu năm 2017 cả nước xuất khẩu 1,1 triệu tấn cà phê, thu về trên 2,52 tỷ USD (giảm 21,3% về lượng nhưng tăng 0,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016); trong đó riêng tháng 9 xuất khẩu 79.500 tấn, đạt kim ngạch 187,3 triệu USD (giảm 16,3% về lượng và giảm 15,7% về kim ngạch so với tháng 8/2017).

Trong số 33 thị trường chủ yếu tiêu thụ cà phê của Việt Nam, thì Đức, Hoa Kỳ, Italia. Tây Ban Nha, Bỉ là các thị trường đứng đầu về kim ngạch; trong đó, xuất khẩu sang Đức nhiều nhất với 168.471 tấn, trị giá 368,76 triệu USD (giảm 24,3% về lượng và giảm 3,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016).

Xuất khẩu sang Hoa Kỳ 145.636 tấn, trị giá 330,71 triệu USD (giảm 20,9% về lượng và giảm 0,4% về giá trị so với cùng kỳ); sang Italia 97.899 tấn, trị giá 215,16 triệu USD (giảm 9,4% về lượng nhưng tăng 15,2% về kim ngạch); sang Tây Ban Nha 76.282 tấn, trị giá 167,61 triệu USD (giảm 18,9% về lượng nhưng tăng 0,4% về kim ngạch); sang Nhật Bản 69.310 tấn, trị giá 164,47 triệu USD (giảm 14,9% về lượng nhưng tăng 7,8% về kim ngạch).

Cà phê Việt Nam xuất khẩu sang khối các nước EU tương đối lớn, chiếm 43% trong tổng lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước (đạt 480.958 tấn, trị giá 1,06 tỷ USD). Xuất sang các nước Đông Nam Á không nhiều, chỉ chiếm 7,8% trong tổng lượng và tổng kim ngạch cà phê của cả nước. 

Trong 9 tháng đầu năm 2017 mặc dù lượng cà phê xuất khẩu giảm, nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng nhẹ 0,4%. Sở dĩ lượng cà phê XK giảm mạnh do niên vụ 2016/2017 bị mất mùa, khiến nguồn cung bị hẹp đi đáng kể. Điều này không chỉ được minh chứng qua việc lượng cà phê XK giảm mạnh, mà tồn kho cà phê từ niên vụ 2016/2017 chuyển sang đầu niên vụ 2017/2018 hiện rất thấp.

Dầu vậy, trong khi sản lượng, lượng XK giảm mạnh mà giá trị XK lại tăng nhẹ và giá XK bình quân tăng nhiều so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, giá cà phê XK bình quân 9 tháng đầu năm đạt 2.287 USD/tấn (tăng 27,5% so với cùng kỳ năm ngoái), đã cho thấy thị trường XK cà phê vẫn đang có những thuận lợi nhất định, chủ yếu do sản lượng cà phê giảm ở Brazil và một số nước khác.

Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ cà phê toàn cầu tiếp tục xu hướng tăng mạnh. Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), trong niên vụ 2017/2018 (từ tháng 10 năm nay đến tháng 9 năm sau), tiêu thụ cà phê toàn cầu sẽ lập kỷ lục mới là 158 triệu bao. So với sản lượng toàn cầu được dự báo là khoảng 159 triệu bao, thì nhu cầu niên vụ 2017/2018 sẽ sát với sản lượng.

Theo nhận định, trong 3 tháng cuối năm 2017, XK cà phê của Việt Nam sẽ thuận lợi hơn khi nông dân đã bắt tay vào thu hoạch cà phê vụ mới, qua đó làm tăng thêm nguồn cung. Ở một số khu vực, nhờ thời tiết thuận lợi khiến cà phê chín nhanh hơn nên nông dân đã có thể thu hoạch sớm cà phê. Đặc biệt, với nguồn cung của vụ mới, Việt Nam có cơ hội phục hồi XK cà phê (về lượng), tại một số thị trường quan trọng.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giá cà phê tại các nước sản xuất vẫn chịu nhiều áp lực trong 3 tháng cuối năm. Trước hết, tồn kho cà phê của các nhà kinh doanh quốc tế đang tương đối dồi dào. Ước tính đến hết tháng 9, có khoảng trên dưới 350 ngàn tấn cà phê Robusta của các nhà kinh doanh quốc tế đang trữ tại kho ở các nước sản xuất và kho cảng ở các thị trường tiêu thụ. Lượng cà phê này có thể đưa vào kho thuộc sàn giao dịch để trở thành hàng đạt chuẩn, tức là có chứng nhận chất lượng nhằm tham gia đấu giá. Vì thế, lượng cà phê tồn kho ấy sẽ gây áp lực lên giá cà phê. Bên cạnh đó, giá cà phê còn chịu áp lực từ bán hàng niên vụ mới tại Brazil và Việt Nam.

Xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2017

 

Thị trường

T9/2017

9T/2017

Trị giá so cùng kỳ năm trước (%)

Tấn

USD

Tấn

USD

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

79.500

187.300.274

1.103.387

2.523.128.297

-21,25

0,38

EU

34.442

77.768.976

480.958

1.063.999.924

-18,86

2,63

ĐÔNG NAM Á

8.411

19.260.357

85.679

197.145.506

-27,26

-9,67

Trung Quốc

1.952

6.230.815

21.194

61.968.993

-43,17

-23,71

Thụy Sỹ

 

 

389

866.554

-86,24

-82,27

Thái Lan

3.893

8.935.572

26.394

60.986.206

-8,48

14,59

Tây Ban Nha

5.528

12.809.654

76.282

167.606.532

-18,87

0,39

Singapore

122

349.941

1.727

5.945.920

-0,29

-0,75

Romania

327

883.484

3.483

10.022.221

-13,19

21,72

Philippines

3.127

6.476.420

37.241

79.982.967

-19,03

-6,50

Pháp

1.924

3.948.297

25.903

54.611.561

-16,81

4,05

Australia

693

1.859.021

8.937

21.585.199

-31,99

-12,36

Nhật Bản

4.354

10.658.537

69.310

164.465.840

-14,89

7,78

New Zealand

 

 

942

2.184.322

51,20

121,01

Nga

2.951

8.325.497

32.871

86.618.942

-30,70

-3,70

Nam Phi

19

42.625

1.619

3.431.537

-82,38

-77,38

Mexico

2.140

4.336.404

29.981

62.438.982

-30,78

-13,52

Malaysia

1.077

2.645.638

14.469

33.822.455

-39,59

-23,34

Israel

269

812.052

4.705

16.621.592

-29,90

0,98

Italy

8.180

17.737.501

97.899

215.160.762

-9,42

15,19

Hy Lạp

547

1.150.136

4.097

9.016.887

-27,74

-9,17

Indonesia

165

705.641

5.616

15.377.507

-67,03

-45,78

Hoa Kỳ

6.078

14.061.130

145.636

330.713.024

-20,91

-0,38

Hàn Quốc

2.595

6.334.519

26.847

64.193.393

20,14

52,26

Hà Lan

370

974.280

8.678

21.157.894

-28,90

-4,91

Đan Mạch

102

257.598

1.006

2.213.347

-33,29

-10,97

Đức

10.870

24.449.121

168.471

368.763.164

-24,29

-3,75

Canada

463

1.034.714

4.651

10.809.898

-12,72

9,14

Campuchia

27

147.145

232

1.030.451

-2,11

0,72

Bỉ

2.161

4.580.990

50.546

109.257.793

-4,42

14,46

Bồ Đào Nha

944

2.057.679

9.391

20.733.737

-9,68

15,41

Ba Lan

236

1.088.201

9.944

26.714.624

-17,61

7,94

Ai Cập

434

884.264

6.082

12.543.332

-48,34

-29,48

Ấn Độ

3.283

6.941.520

32.832

67.127.125

-6,53

15,21

Algeria

3.273

7.411.594

41.940

91.722.465

-19,49

3,50

Anh

3.253

7.832.035

25.258

58.741.402

-33,95

-11,39