Theo tính toán từ số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, thương mại song phương Việt Nam - Australia đạt 3,84 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2019, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu sang Australia đạt 1,64 tỷ USD, chiếm 1,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước, giảm 17,4 %; nhập khẩu từ Australia 2,21 tỷ USD, chiếm 1,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước, tăng 34,2%; như vậy, Việt Nam nhập siêu từ Australia 568,34 triệu USD, trong khi 6 tháng đầu nưm 2018 xuất siêu sang Australia 338,6 triệu USD.
Việt Nam nhập khẩu từ Australia nhiều nhất là Than, quặng và khoáng sản, kim loại thường, lúa mì; trong đó có than đạt kim ngạch cao nhất 796,46 triệu USD, chiếm 36,1% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các loại từ thị trường này, tăng 106% so với cùng kỳ năm trước.
Nhóm quặng và khoáng sản đứng vị trí thứ 2 về kim ngạch, với 289,43 triệu USD, chiếm 13,1%, tăng 124% so với cùng kỳ; Kim loại thường đứng thứ 3 với 234,38 triệu USD, chiếm 10,5%, giảm 21,6%.
Trong 6 tháng đầu năm nay đa số các nhóm hàng nhập khẩu từ thị trường Australia tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018; trong đó ngoài 2 nhóm hàng tăng mạnh nêu trên, còn có một số nhóm hàng tăng cao trên 100% kim ngạch, đó là sắt thép tăng 122%, đạt 27,64 triệu USD; Thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 119%, đạt 16,93 triệu USD; Sữa và sản phẩm sữa tăng 104,5%, đạt 26,85 triệu USD.
Mặc dù, có rất nhiều nhóm hàng nhập khẩu tăng mạnh, nhưng vẫn có một số sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái như: Hóa chất giảm 28,5%, chỉ đạt 0,91 triệu USD; Sản phẩm khác từ dầu mỏ giảm 28,3%, đạt 3,84 triệu USD; Lúa mì giảm 25%, đạt 144,52 triệu USD.

Nhập khẩu hàng hóa từ Australia 6 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD

Nhóm hàng

Tháng 6/2019

+/- so với tháng 5/2019 (%)*

6 tháng đầu năm 2019

+/- so với cùng kỳ năm trước (%)*

Tổng kim ngạch NK

404.502.690

-19,78

2.205.937.804

34,23

Than các loại

169.396.661

0,05

796.459.926

104,06

Quặng và khoáng sản khác

63.126.032

17,8

289.943.771

124,07

Kim loại thường khác

46.244.953

0,23

234.382.986

-21,57

Lúa mì

9.950.404

-82,55

144.520.167

-25,12

Phế liệu sắt thép

846.262

-97,55

82.598.761

11,68

Hàng rau quả

9.400.361

-39,42

57.639.767

38,38

Bông các loại

9.018.294

349,14

40.007.424

-8,36

Sắt thép các loại

811.440

-95,58

27.636.753

122,03

Dược phẩm

4.323.135

-49,19

26.884.961

-3,34

Sữa và sản phẩm sữa

2.260.307

-16,7

26.854.198

104,47

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

4.432.877

-33,58

23.700.931

-9,96

Sản phẩm hóa chất

3.686.504

-7,6

19.845.548

-16,75

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

1.937.146

-39,74

16.926.357

118,96

Chất dẻo nguyên liệu

2.041.751

53,64

9.188.642

-10,1

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

1.421.908

-10,53

8.118.086

-20,63

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

1.108.174

37,11

6.511.955

19,14

Chế phẩm thực phẩm khác

797.475

-22,78

5.684.393

69,43

Khí đốt hóa lỏng

5.545.325

 

5.545.325

 

Gỗ và sản phẩm gỗ

789.373

-43,29

4.487.125

61,35

Sản phẩm khác từ dầu mỏ

826.678

1,9

3.839.320

-28,26

Dầu mỡ động, thực vật

596.462

9,44

3.011.825

-9,16

Sản phẩm từ sắt thép

541.018

51,56

2.460.616

62,19

Hóa chất

157.872

-17,17

912.727

-28,46

(*Tính toán theo số liệu của TCHQ)

Một số thuận lợi – khó khăn trong quan hệ thương mại Việt Nam - Australia
Thuận lợi
Các doanh nghiệp Việt Nam có những lợi thế lớn khi xuất khẩu sang Australia do có vị trí gần gũi hơn rất nhiều so với Mỹ và châu Âu. Ngoài ra, Hiệp định tự do thương mai giữa các nước ASEAN với Australia, trong đó có Việt Nam cũng tạo điều kiện cho các hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Úc được thuận lợi hơn.
Khó khăn
Vấn đề cạnh tranh về giá: Hiện nay Australia nhập khẩu từ rất nhiều nước khác nhau, từ Châu Á, Thái Bình Dương... nên giá phải hợp lý thì mới được chấp nhận rộng rãi tại Australia.
Vấn đề chất lượng sản phẩm phải được đảm bảo ở một mức độ nào đó bởi vì trong tiềm thức của người dân Úc thì chất lượng sản phẩm của Việt Nam mới chỉ ở mức độ vừa phải cho nên chúng ta cần cải thiện chất lượng hơn nữa.
Vấn đề giao tiếp bằng tiếng Anh, khi các công ty xuất khẩu sang Australia thì ngôn ngữa bắt buộc sẽ là tiếng Anh, nên các doanh nghiệp của Việt Nam làm tốt điều này
Các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa thực sự am hiểu về các quy định, chế tài của chính phủ Australia.
- Chính sách thương mại và thuế của Australia khá minh bạch, nhưng hàng rào phi thuế quan (các quy định về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, SPS, TBT,...) khá chặt chẽ. Tất cả các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu phải tuân thủ theo các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm do Bộ Nông nghiệp đưa ra. Hàng nông sản phải tuân thủ các quy định về SPS. Sản phẩm công nghiệp cần tuân thủ theo các quy định về hàng rào kỹ thuật. Nhìn chung các mặt hàng nhập khẩu đều phải tuân thủ theo các quy định về bao gói, nhãn mác.
Australia là thị trường xuất khẩu thuỷ sản tiềm năng của Việt Nam. Vấn đề hiện nay là Australia đặt ra rất nhiều các qui định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn sinh học. Hàng thuỷ sản của Việt Nam vẫn còn vài trường hợp dư lượng kháng sinh, dư lượng thuốc diệt nấm và một vài trường hợp bị phát hiện bơm nước và tạp chất vào thuỷ sản. Các trường hợp vi phạm do Bộ Nông nghiệp Australia kiểm tra và phát hiện sẽ bị thông báo rộng rãi trên trang web của Chính phủ bao gồm cả tên nhà cung cấp và nước cung cấp. Vấn đề này sẽ huỷ hoại hình ảnh của Việt Nam, làm giảm giá trị và chất lượng của sản phẩm thuỷ sản Việt Nam. Do đó, hàng thủy sản của nước ta bị giảm giá trên thị trường Australia. Năm 2014 đã có 26 trường hợp hàng của Việt Nam (bao gồm cả thuỷ sản) bị trả về do vi phạm và việc này không chỉ gây tốn kém cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh hàng thủy sản Việt Nam.
- Việt Nam vẫn chưa xây dựng được một hệ thống các cơ quan quản lý và chứng nhận chất lượng đạt chuẩn từ trung ương tới địa phương, hiện đang xây dựng tiêu chuẩn cho hàng hóa và hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế. Năng lực của các cơ quan quản lý chất lượng còn yếu. Máy móc thiết bị kiểm tra còn lạc hậu nên kết quả kiểm tra trong một số trường hợp chưa chính xác. Công tác quản lý chất lượng hàng hóa và vệ sinh an toàn thực phẩm còn lỏng lẻo từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm. Dẫn tới hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm của Úc. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho hàng xuất khẩu nước ta khó đáp ứng yêu cầu về SPS, TBT theo Hiệp định AANZFTA để có thể tận dụng ưu đãi. Nếu hàng xuất khẩu Việt Nam đạt chất lượng tốt sẽ vượt qua được khâu kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm của Australia và có thể thâm nhập thuận lợi vào thị trường này.
- Ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam kém phát triển, chưa đáp ứng được nguồn nguyên liệu, phụ liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu. Một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta như dệt may, da giày vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan nên không đáp ứng được quy tắc xuất xứ theo AANZFTA. Do đó, hai nhóm hàng này tận dụng chưa hiệu quả những ưu đãi trong Hiệp định để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang Australia.
- Chi phí, thủ tục hành chính để xin cấp C/O còn phức tạp, mất thời gian. Hiện nước ta chưa có đầu mối thống nhất về giải thích cam kết, hướng dẫn FTA. Việc giải thích, hướng dẫn áp dụng FTA vẫn còn tản mạn, chưa có sự nhất quán. Việc vận dụng cùng một quy định trong FTA, chẳng hạn việc áp dụng tiêu chí xuất xứ không giống nhau giữa các địa phương.
- Khi AANZFTA đi vào thực hiện, nhưng nhiều doanh nghiệp còn thụ động trong việc tìm hiểu Hiệp định này, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chỉ có một số doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp thường xuyên kinh doanh với thị trường Australia là chủ động tìm hiểu nội dung Hiệp định, các cam kết, ưu đãi mà hàng Việt Nam được hưởng trong AANZFTA ngay khi Hiệp định được ký kết và chưa có hiệu lực thi hành.
- Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm được, hoặc chưa cập nhật được các quy định nhập khẩu hàng hóa và quy định về kiểm dịch đối với hàng nhập khẩu của Australia. Vì vậy, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này còn gặp khó khăn ở khâu thâm nhập thị trường và kiểm dịch. Một số lô hàng xuất khẩu vẫn vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm của phía Bạn.
- Thương hiệu cho hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm, đầu tư và phát triển xứng tầm. Thực tế cho thấy, hầu hết những mặt hàng nông, thủy sản của Việt Nam được xuất khẩu vẫn chỉ ở dạng xuất thô, xuất khẩu nguyên liệu, sản phẩm đã qua chế biến thì phần lớn lại mang tên của đối tác nước ngoài. Giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam so với các nước có trình độ tương đương thấp hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân là việc xây dựng thương hiệu cho hàng nông sản chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, người tiêu dùng Australia chỉ biết một số ít thương hiệu hàng xuất khẩu Việt Nam.
Với thực trạng thương mại Việt - Australia như hiện nay, vấn đề đặt ra là Việt Nam phải khắc phục các mặt tồn tại, hạn chế để thúc đẩy hoạt động này phát triển tương xứng với tiềm năng xuất khẩu của nước ta và nhu cầu nhập khẩu của phía Bạn, hay nói cách khác là mở rộng, nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại song phương.