Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc tháng 5/2018 tăng 3,06% so với tháng 4 đạt trên 1,4 tỷ USD, nâng kim ngạch 5 tháng đầu năm 2018 xuất sang thị trường này lên 7,1 tỷ USD, tăng 31,11% so với cùng kỳ năm 2017.
Trong cơ cấu nhóm hàng hóa xuất sang Hàn Quốc thì nhóm hàng công nghiệp chiếm phần lớn, dẫn đầu kim ngạch là điện thoại các loại và linh kiện, đạt 1,8 tỷ USD, tăng 33,55%. Đứng thứ hai là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 1,1 tỷ USD, tăng 54,6%. Kế đến là dệt may, máy móc thiết bị, gỗ và sản phẩm,…. đạt lần lượt 1 tỷ USD; 497,7 triệu USD; 374,1 triệu USD… tăng tương ứng 21,95%; 23,9% và 49,15%.
Nhìn chung, kim ngạch hàng hóa xuất sang thị trường Hàn Quốc thời gian này đều có tốc độ tăng trưởng chiếm 82,05%, trong đó tăng mạnh nhất là nhóm hàng than đá (558,25%); kế đến là máy ảnh, máy quay phim và linh kiện; giấy và các sản phẩm từ giấy; quặng và khoáng sản khác; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng lần lượt 352,5%; 169,77%; 164,93% và 122,65%.
Ở chiều ngược lại nhóm hàng với kim ngạch suy giảm chỉ chiếm 17,95%, trong đó hạt tiêu giảm mạnh nhất 24,91% về lượng và 55,02% trị giá tương ứng với 2,4 nghìn tấn; 9,1 triệu USD; kế đến là cao su giảm 27,63% về lwongj và 46,29% trị giá với 12,3 nghìn tấn; 19,4 triệu USD.
Những mặt hàng chính xuất khẩu sang Hàn Quốc 5 tháng đầu năm 2018

Mặt hàng

5 tháng đầu năm 2018

+/- so với cùng kỳ năm 2017 (%)

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng

 

7.197.806.064

 

31,11

Điện thoại các loại và linh kiện

 

1.894.629.459

 

33,55

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

1.120.593.252

 

54,6

Hàng dệt, may

 

1.087.562.388

 

21,95

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

 

497.742.705

 

23,9

Gỗ và sản phẩm gỗ

 

374.193.675

 

49,15

Hàng thủy sản

 

313.714.111

 

19,37

Giày dép các loại

 

202.221.282

 

27,75

Xơ, sợi dệt các loại

67.892

169.921.704

18,76

23,72

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

 

152.521.322

 

352,5

Phương tiện vận tải và phụ tùng

 

90.894.395

 

-11,61

Sản phẩm từ sắt thép

 

70.976.127

 

58,88

Kim loại thường khác và sản phẩm

 

68.754.056

 

5,23

Sắt thép các loại

104.644

66.331.196

0,76

12,04

Dây điện và dây cáp điện

 

65.445.712

 

39,3

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

 

65.012.124

 

91,04

Sản phẩm từ chất dẻo

 

61.245.411

 

35,22

Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù

 

60.320.227

 

14,18

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

 

47.018.624

 

43,89

Hàng rau quả

 

46.537.351

 

15,26

Xăng dầu các loại

53.491

36.697.870

22,49

67,21

Cà phê

14.593

31.149.837

-15,69

-15,95

Sản phẩm hóa chất

 

28.641.770

 

-8

Hóa chất

 

28.606.513

 

71,86

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

 

23.585.294

 

67,03

Than các loại

164.135

21.293.040

346,83

558,25

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

 

20.826.981

 

19,9

Sản phẩm từ cao su

 

20.468.608

 

-0,71

Cao su

12.327

19.403.848

-27,63

-46,29

Vải mành, vải kỹ thuật khác

 

18.948.801

 

-28,22

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

 

13.137.580

 

122,65

Sắn và các sản phẩm từ sắn

43.423

11.727.233

7,97

30,15

Chất dẻo nguyên liệu

5.259

9.578.874

79,24

127,91

Hạt tiêu

2.493

9.188.838

-24,91

-55,02

Giấy và các sản phẩm từ giấy

 

8.202.248

 

169,77

Sản phẩm gốm, sứ

 

8.077.234

 

5,98

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

 

7.570.801

 

3,62

Phân bón các loại

18.656

6.302.097

-40,03

1,07

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

 

6.228.718

 

70,56

Quặng và khoáng sản khác

13.892

4.769.315

18,13

164,93

(Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Đối với nhóm hàng nông sản, mặc dù tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Hàn Quốc tăng mạnh, tỷ trọng hàng nông sản vẫn còn khiêm tốn, chỉ chiếm 3,7% năm 2017, tăng 1% so với năm 2015 và nay sang năm 2018 trong 5 tháng đầu năm chiếm khoảng 1,63%.
Quan hệ thương mại Việt – Hàn kể từ khi được thiết lập năm 1992, kim ngạch thương mại hai chiều tăng tới 123 lần lên 61,5 tỷ USD. Đặc biệt sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc có hiệu lực vào tháng 12/2015, đà tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Hàn Quốc tăng trưởng càng mạng từ 730 triệu USD (2015) lên 1,5 tỷ USD.
Mỗi năm Hàn Quốc chi ra khoảng 33 tỷ USD để nhập khẩu nông, lâm, thủy sản. Tuy nhiên, cuối quý II/2017, lượng rau củ quả mà Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc đạt chưa tới 1,5% của 33 tỷ USD. Sang năm 2018 trong 5 tháng đầu năm, nhóm hàng rau quả chỉ đạt 46,5 triệu USD, chiếm gần 1% tổng kim ngạch.
Hàn Quốc được coi là thị trường khó tính, áp dụng tiêu chuẩn cao về kiểm dịch động vật và thực phẩm nhập khẩu. Không ít doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã gặp khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến nông sản VIệt có mặt tại Hàn Quốc chưa nhiều.
Từ ngày 1/1/2017, Hàn Quốc đã tiến hành áp dụng cơ chế mới về quản lý danh mục thuốc bảo vệ thực vật có trong quả hạt có dầu và hoa quả nhiệt đới. Theo đó, nếu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật chưa được đăng ký thiết lập mức giới hạn cho phép (Maximum residue limit – MRLs) thì sẽ bị áp dụng mức mặc định chung là 0,01ppm.
Mặc dù đây là biện pháp áp dụng chung đối với tất cả các nước, song biện pháp này sẽ hạn chế về số lượng, chủng loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trong phòng trừ sâu bệnh tại Việt Nam. Nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật chưa được đăng ký theo quy định mới của Hàn Quốc sẽ bị áp mức mặc định 0,01ppm. Điều này sẽ có những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến xuất khẩu các sản phẩm xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam như cà phê, lạc nhân, hạt điều và các loại trái cây nhiệt đới… sang thị trường Hàn Quốc.
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Quyền Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển Thị trường nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhận định mặc dù hàng nông sản của Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu lớn nhưng chỉ khi đáp ứng được những tiêu chuẩn kỹ thuật ngày một khắt khe trong sản xuất và bảo quản thì hàng trái cây xuất khẩu mới nâng cao được khả năng xuất khẩu trực tiếp sang những thị trường đã phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, châu Âu.
Ông Lee Soon-Ho, Đại diện Bộ An toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hàn Quốc đã chỉ ra các loại trái cây mà Việt Nam cần đặc biệt lưu tâm về loại/dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong top 20 sản phẩm nông sản Việt Nam xuất sang Hàn Quốc như rau cải củ, tía tô, rau cải cúc, rau chân vịt, hẹ..
Đại diện Bộ An toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hàn Quốc khuyến cáo, doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng rà soát hàng trái cây xuất khẩu của mình có sử dụng loại thuốc bảo vệ thực vật nào “chưa có tiêu chuẩn an toàn về dư lượng” tại Hàn Quốc.