Xuất khẩu hạt điều tăng mạnh cả về lượng, trị giá và giá xuất khẩu trong tháng 1 cũng đạt mức tương đối cao 10.253,6 USD/tấn, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2017 và tăng 1,3% so với tháng cuối năm 2017.  

Mỹ vẫn duy trì là thị trường đứng đầu về tiêu thụ các loại hạt điều xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 30% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều của cả nước, đạt 9.238 tấn, trị giá 96,21 triệu USD, tăng 52,2% về lượng và tăng 67,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Giá hạt điều xuất khẩu sang Mỹ đạt 10.414,5 USD/tấn, tăng 10%.

Trung Quốc vượt qua Hà Lan, lên vị trí thứ 2 về tiêu thụ hạt điều của Việt Nam, chiếm 20% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều của cả nước, đạt 6.355 tấn, trị giá 62,73 triệu USD, tăng 86% về lượng và tăng 101% về trị giá. Giá xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 8,3%, đạt 9.871 USD/tấn.

Hà Lan đứng thứ 3 thị trường đạt 3.566 tấn, tương đương 39,87 triệu USD, chiếm 12% thị phần, tăng 71,4% về lượng và tăng 105% về kim ngạch. Giá xuất khẩu đạt mức tương đối cao 11.182 USD/tấn, tăng 19,7%.

Trong tháng đầu năm nay, xuất khẩu hạt điều tăng trưởng rất tốt ở đa số các thị trường; trong đó nổi bật nhất là thị trường Đài Loan, với mức tăng 572% về lượng và tăng 596% về kim ngạch, mặc dù kim ngạch chỉ đạt 242 tấn, tương đương 2,53 triệu USD. Bên cạnh đó, có rất nhiều thị trường đạt mức tăng trên 200% về lượng và kim ngạch như Istael, Italia, Hồng Kông, Tây Ban Nha, Canada, Na Uy.

Nhu cầu tiêu thụ hạt điều trên thế giới được dự báo sẽ tiếp tục tăng, giá điều trong năm 2018 sẽ vẫn giữ ở mức cao. Đây là những yếu tố thuận lợi cho xuất khẩu hạt điều của Việt Nam.

Dự báo xuất khẩu mặt hàng hạt điều vào thị trường Mỹ trong năm 2018 sẽ vẫn giữ tốc độ tăng trưởng, do nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này vẫn ổn định và tăng nhẹ. Tại EU, dự kiến xuất khẩu hạt điều sẽ vẫn giữ mức tăng trưởng tốt trong năm 2018 do kinh tế một số nước thành viên EU đang phục hồi, nhu cầu tiêu thụ mặt hàng sẽ tăng.

Trên thị trường thế giới, cung cầu hạt điều trên thị trường thế giới không có sự biến động mạnh, giá hạt điều ổn định và tăng nhẹ trong nửa đầu tháng 2/2018. Tại Ấn Độ, đầu tháng 2/2018 giá hạt điều ổn định so với cuối tháng trước. Cụ thể giá hạt điều WW180, WW210, WW240, WW320 ổn định ở mức 1.087,5 Rs/kg, 980 Rs/kg, 907,5 Rs/kg, 815 Rs/kg.

Tại Việt Nam, giá hạt điều WW320 và LWP ổn định ở mức 4,7 USD/lb và 3,7 USD/lb. Giá hạt điều WW450 tăng nhẹ 0,03% lên mức 4,475 USD/lb.

Tại Bình Phước giá điều nhân loại W240 là 280.000 đồng/kg, loại W320 ở mức 260.000 đồng/kg, tăng khoảng 20 - 30 nghìn đồng/kg so với trước đó. Tại Đồng Nai giá hạt điều khô mua xô dao động ở mức 41.000 đồng/kg – 42.000 đồng/kg. Nhu cầu thu mua nguyên liệu từ các nhà máy phục vụ dịp Tết tăng, nguồn cung hạn chế vào thời điểm giáp hạt, nên giá điều trong nước tăng.

Dự báo thời gian tới, giá hạt điều sẽ tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ cho vụ mùa mới của Việt Nam và Ấn Độ tăng trong khi vụ mùa thu hoạch tại Tây Phi khá muộn.

Xuất khẩu hạt điều tháng 1/2018

ĐVT: USD

Thị trường

T1/2018

(+/-%) T1/2018 so với cùng kỳ

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng kim ngạch XK

30.912

316.959.982

71,07

92,73

Mỹ

9.238

96.209.097

52,17

67,51

Trung Quốc

6.355

62.731.177

86,04

101,43

Hà Lan

3.566

39.874.328

71,36

105,12

Canada

1.317

15.066.922

187,55

236,44

Anh

1.004

10.322.873

17,84

41,9

Thái Lan

882

8.525.408

122,73

141,39

Australia

833

8.151.132

-8,26

-1,72

Italia

826

7.990.408

203,68

289,04

Đức

747

7.884.473

58,94

82,61

Nga

442

4.443.309

113,53

133,18

Pháp

352

4.070.177

166,67

178,54

Ấn Độ

498

3.807.588

12,16

42,34

Israel

325

3.427.955

277,91

330,64

Hồng Kông

264

3.075.023

180,85

269,09

Nhật Bản

284

2.686.568

49,47

61,54

Đài Loan

242

2.527.793

572,22

596,43

Tây Ban Nha

222

2.292.200

276,27

288,17

Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất

256

2.166.247

-26,01

-27,35

New Zealand

188

1.661.915

-18,26

-17,98

Philippines

153

1.568.667

112,5

189,36

Na Uy

136

1.424.562

183,33

210,71

Bỉ

79

999.250

-17,71

9,46

Singapore

58

586.536

9,43

14,91

Hy Lạp

48

488.950

20

23,32

Nam Phi

47

483.340

-27,69

-18,49

Ucraina

32

268.788

77,78

59,48

 (Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)