Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 9/2018 là Argentina, Brazil, Mỹ, Trung Quốc,... Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 148 triệu USD, tăng 222,64% so với tháng trước đó và tăng 25,69% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL từ nước này trong 9  tháng đầu năm 2018 lên gần 900 triệu USD, chiếm 30,9% thị phần.

Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt hơn 61 triệu USD, tăng 97,9% so với tháng 8/2018 và tăng 130,9% so với cùng tháng năm trước. Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 388 triệu USD, tăng 272,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đứng thứ ba là Mỹ, với kim ngạch nhập khẩu hơn 61 triệu USD, giảm 14,2% so với tháng trước đó nhưng tăng mạnh 903,7% so với cùng tháng năm trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2018 lên hơn 502 triệu USD, tăng 168,45% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2018 Việt Nam đã chi gần 2,9 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 17,08% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Brazil với 388 triệu USD, tăng 272,43% so với cùng kỳ, Mỹ với 502 triệu USD, tăng 168,45% so với cùng kỳ, Chile với hơn 20 triệu USD, tăng 152,97% so với cùng kỳ, sau cùng là Bỉ với hơn 21 triệu USD, tăng 121,64% so với cùng kỳ.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN & NL 9 tháng đầu năm 2018

ĐVT: nghìn USD

Thị trường

9T/2017

T9/2018

+/- So với T8/2018 (%)

9T/2018

+/- So với 9T/2017 (%)

Tổng KN

2.474.850

386.516

27,9

2.897.476

17,1

Argentina

1.193.806

148.432

222,6

894.518

-25,1

Ấn Độ

102.946

13.238

12,1

139.871

35,9

Anh

1.337

61

-74,3

1.031

-22,9

Áo

47.216

607

576,6

4.875

-89,7

Bỉ

9.712

699

-7,4

21.527

121,6

Brazil

104.244

61.957

97,9

388.235

272,4

UAE

56.272

4.117

9,4

49.724

-11,6

Canada

55.419

2.327

53,0

15.731

-71,6

Chile

8.116

3.519

-50,2

20.533

153

Đài Loan

61.999

8.251

-6,3

70.697

14,0

Đức

5.915

1.317

104,2

7.604

28,6

Hà Lan

15.278

2.685

7,3

17.089

11,9

Hàn Quốc

27.165

3.952

-1,9

36.923

35,9

Mỹ

187.091

61.220

-14,2

502.251

168,5

Indonesia

79.025

6.614

-23,2

69.901

-11,6

Italia

54.291

4.645

0,5

37.925

-30,1

Malaysia

21.226

2.095

-31,4

27.899

31,4

Mexico

1.755

140

-61,2

3.143

79,1

Nhật Bản

3.565

345

32,4

2.955

-17,1

Australia

8.432

1.155

-33,2

11.474

36,1

Pháp

19.415

2.107

-17,9

25.057

29,1

Philippin

13.658

608

-75,5

11.332

-17,0

Singapore

11.340

1.566

-16,8

12.733

12,3

Tây Ban Nha

8.160

2.425

4,7

12.036

47,5

Thái Lan

57.909

5.147

-58,4

79.754

37,7

Trung Quốc

115.765

14.900

-39,3

173.433

49,8

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 9 tháng đầu năm 2018

Mặt hàng

9T/2017

9T/2018

So với cùng kỳ

Lượng (1000 tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (1000 tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Lúa mì

3.693

777.916

3.988

955.420

8

22,8

Ngô

5.605

1.104.896

7.281

1.504.148

29,9

36,1

Đậu tương

1.279

550.332

1.325

574.704

3,6

4,4

Dầu mỡ động thực vật

 

542.881

 

547.446

 

0,8

(Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2018 đạt 305 nghìn tấn với kim ngạch đạt 75 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2018 lên gần 4 triệu tấn, với trị giá 955  triệu USD, tăng 8% về khối lượng và tăng 22,82% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2018 là Nga chiếm 53% thị phần; Australia chiếm 25%, Canada chiếm 8%, Mỹ chiếm 4% và Brazil chiếm 2%.

Chỉ có một số thị trường nhập khẩu lúa mì tăng mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2017 là Mỹ và Nga. Trong 9 tháng đầu năm 2018, thị trường Nga về lượng tăng  hơn 13 lần và về trị giá tăng hơn 15 lần. Tương tự, Mỹ tăng lần lượt hơn 12 lần và 11 lần.

Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt 185 nghìn tấn với giá trị hơn 76 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 9 tháng đầu năm 2018 lên hơn 1,3 triệu tấn và 574 triệu USD, tăng 3,55% về khối lượng và tăng 4,43% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2018 đạt hơn 1,2 triệu  tấn với trị giá đạt 259 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2018 lên  hơn 7,26 triệu tấn và hơn 1,5 tỉ USD, tăng 29,9% về khối lượng và tăng 36,13% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 48% và 14% thị phần. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan giảm mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.