Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã chi hơn 2,4 tỉ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, giảm 2,37% so với cùng kỳ năm trước đó.
Trong 9 tháng đầu năm 2017, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ nhất là Italia với hơn 54 triệu USD, tăng 864,12% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là Canada với hơn 55 triệu USD, tăng 530,52% so với cùng kỳ; Chilê với hơn 8 triệu USD, tăng 88,41% so với cùng kỳ, sau cùng là Ấn Độ với hơn 102 triệu USD, tăng 81,56% so với cùng kỳ.
Các thị trường chính cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam trong tháng 9/2017 là Achentina, Brazil, Trung Quốc, Canada... Trong đó, Achentina là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 116 triệu USD, giảm 10,13% so với tháng trước đó nhưng tăng 2,89% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ nước này trong 9 tháng đầu năm 2017 lên gần 1,2 tỉ USD, chiếm 48,1% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước đó – đứng đầu về thị trường cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam. Kế đến là thị trường Brazil với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2017 đạt hơn 26 triệu USD, tăng 577,4% so với tháng 8/2017 nhưng giảm 3,4% so với cùng tháng năm ngoái. Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2017 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ thị trường này đạt hơn 104 triệu USD, giảm 14,79% so với cùng kỳ năm trước đó.
Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ Achentina tăng trong 9 tháng đầu năm 2017, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi dào – thị trường TĂCN và nguyên liệu tiềm năng của Việt Nam.
Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 9/2017 là Trung Quốc với trị giá hơn 15 triệu USD, tăng 29,92% so với tháng trước đó nhưng giảm 18,69% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2017 lên hơn 115 triệu USD, giảm 46,2% so với cùng kỳ năm trước đó.
Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ các thị trường khác nữa như: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Indonesia, Đài Loan và Thái Lan với kim ngạch đạt 187 triệu USD, 102 triệu USD, 79 triệu USD; 61 triệu USD; và 57 triệu USD.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu tháng 9/2017 và 9 tháng đầu năm 2017

ĐVT: nghìn USD

KNNK 9T/2016

KNNK T9/2017

KNNK 9T/2017

+/- so với T8/2017 (%)

+/- so với T9/2016 (%)

+/- so với 9T/2016 (%)

Tổng KN

2.533.271

254.031

2.473.171

8,9

-10,8

-2,4

Achentina

1.137.557

116.839

1.190.736

-10,1

2,9

4,7

Ấn Độ

56.704

7.234

102.951

14,9

144,0

81,6

Anh

1.122

53

1.337

 

-82,8

19,2

Áo

92.728

507

47.434

-57,9

-96,8

-48,9

Bỉ

7.920

1.364

9.722

149,5

63,2

22,8

Brazil

122.331

26.831

104.243

577,4

-3,4

-14,8

UAE

59.556

5.754

56.272

30,5

-22,4

-5,5

Canada

8.827

10.495

55.660

0,04

1329,7

530,5

Chilê

4.308

1.347

8.116

8,4

38,2

88,4

Đài Loan

56.589

8.709

61.999

0,6

-2,3

9,6

Đức

4.560

765

5.921

-4,8

33,3

29,9

Hà Lan

21.282

716

15.278

-41,3

-61,1

-28,2

Hàn Quốc

26.968

3.415

27.031

-12,2

28,0

0,2

Hoa Kỳ

270.687

6.099

187.724

-8

-81,4

-30,7

Indonesia

69.635

8.665

79.169

36,9

-2,6

13,7

Italia

5.631

3.988

54.291

256

1261,7

864,1

Malaysia

65.109

2.051

21.251

1,7

-29,7

-67,4

Mêhicô

1.173

76

1.755

77,4

-76,8

49,6

Nhật Bản

3.517

316

3.565

-25,8

57,6

1,4

Australia

10.134

185

8.432

-10,9

-82,8

-16,8

Pháp

15.689

2.097

19.399

68,2

13,5

23,6

Philippin

10.365

1.637

13.671

73,4

20,1

31,9

Singapore

15.040

1.094

11.340

-16,1

-47,0

-24,6

Tây Ban Nha

27.344

602

8.160

25,5

-63,7

-70,2

Thái Lan

71.342

4.492

57.971

-39,9

-54,1

-18,7

Trung Quốc

215.125

15.223

115.820

29,9

-18,7

-46,2

Ngoài ra nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN còn bao gồm các loại: lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về các nguyên liệu sản xuất TĂCN trong 9 tháng đầu năm 2017

Mặt hàng

9T/2016

9T/2017

So với cùng kỳ

Lượng (1000 tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (1000 tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Lúa mì

3.472

735.919

3.598

758.847

3,6

3,1

Ngô

5.571

1.093.664

5.609

1.105.601

0,7

1,1

Đậu tương

1.121

473.020

1.279

550.213

14

16,3

Dầu mỡ động thực vật

 

460.345

 

543.018

 

18

(Nguồn: Vinanet tổng hợp số liệu thống kê của TCHQ)

Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2017 đạt 216 nghìn tấn với giá trị đạt 54 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này 9 tháng đầu năm 2017 lên gần 3,6 triệu tấn, với trị giá 758 triệu USD, tăng 3,64% về khối lượng và tăng 3,12% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2017 là Australia, chiếm tới 47%; tiếp đến là Canada chiếm 24%, thị trường Brazil chiếm 3%, thị trường Nga chiếm 2% và thị trường Hoa Kỳ chiếm 1 phần rất nhỏ trong tổng giá trị nhập khẩu lúa mỳ. Các thị trường nhập khẩu lúa mì hầu hết đều tăng cả về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2016 ngoại trừ thị trường Hoa Kỳ và Brazil. Trong 9 tháng đầu năm 2017, thị trường Canada tăng vượt trội cả về lượng và trị giá, với khối lượng nhập khẩu tăng hơn 15 lần và giá trị tăng hơn 11 lần. Thị trường có lượng và trị giá nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là Brazil (giảm gần 69%).

 Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2017 đạt 93 nghìn tấn với giá trị 40 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 9 tháng đầu năm 2017 đạt hơn 1,2 triệu tấn và 550 triệu USD, tăng 14% về khối lượng và tăng 16,32% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2017 đạt 788 nghìn tấn với giá trị đạt 147 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2017 đạt 5,6 triệu tấn và 1,1 tỉ USD, tăng 0,69% về khối lượng và tăng 1,09% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Achentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 9 tháng đầu năm 2017, chiếm lần lượt là 55% và 20,8% tổng giá trị nhập khẩu. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô của thị trường Thái Lan tăng hơn 12 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ tăng có hơn 2 lần.