Trong đó, riêng tháng 10/2017 lượng than nhập khẩu về Việt Nam cũng tăng mạnh 22,8% về lượng và tăng 73,7% về trị giá so với tháng liền kề trước đó, đạt 1,26  triệu tấn, trị giá 161,16 triệu USD. Giá than nhập khẩu trong tháng 10/2017 cũng tăng mạnh 41,5% so với tháng 9, đạt 128,1 USD/tấn.

Lượng than nhập khẩu từ thị trường Indonesia nhiều nhất 4,51 triệu tấn, tuy nhiên giá nhập rẻ hơn của Australia, chỉ khoảng 65,7 USD/tấn, do đó trị giá đạt 296,39 triệu USD – thấp hơn kim ngạch nhập khẩu từ  Australia.

Lượng than nhập khẩu từ thị trường Australia tuy ít hơn, chỉ 3,07 triệu tấn, nhưng do giá nhập cao 119,2 USD/tấn, nên kim ngạch lên tới 365,34 triệu USD.

Lượng than nhập khẩu từ thị trường Nga đứng thứ 3 sau 2 thị trường trên, đạt 2,04 triệu tấn, trị giá 198,86 triệu USD, chiếm 17,5% trong tổng lượng than nhập khẩu của cả nước và chiếm 16,6% trong tổng kim ngạch. Giá than nhập từ Nga chỉ ở mức 97,4 USD/tấn, tăng 48,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu than từ các thị trường như: Trung Quốc 924,738 tấn, trị giá 185,85 triệu USD; Malaysia 148.429 tấn, trị giá 7,44 triệu USD; Nhật Bản 5.407 tấn, trị giá 1,64 triệu USD.  

Nhập khẩu than từ các nước Đông Nam Á nói chung chiếm tới 40% trong tổng lượng than nhập khẩu của cả nước và chiếm 25,4% trong tổng kim ngạch, đạt 4,66 triệu tấn, trị giá 303,84 triệu USD, tăng mạnh 97% về lượng và tăng 174,4% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. 

Trong 10 tháng đầu năm nay, giá than nhập khẩu từ  thị trường Nhật Bản trung bình ở mức cao nhất 303,5 USD/tấn, giảm 68% so với cùng kỳ; còn giá than nhập khẩu từ thị trường Malaysia có mức thấp nhất, chỉ 50,2 USD/tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm ngoái.  

Giá than thế giới tăng cao khiến cho Việt Nam mỗi năm phải mất thêm hàng tỉ USD nhập than về cho các nhà máy nhiệt điện. Theo Viện Kinh tế năng lượng và phân tích tài chính (IEEFA), giá than tăng kể từ đầu năm 2016 có thể khiến Việt Nam phải chi thêm 1,27 tỉ USD mỗi năm.

Tính từ đầu năm 2016 đến nay, giá than quốc tế, trong đó có giá than Newcastle của Australia, đã tăng gấp đôi lên xấp xỉ 100 USD/tấn.

Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu than của Việt Nam ngày càng tăng, khi năm 2016 nhập tới 12 triệu tấn than, tăng đến 131% so với 5,2 triệu tấn năm 2015.

Theo dự báo của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 35 triệu tấn than vào năm 2021. Nếu tính theo giá hiện nay, thì thời điểm đó Việt Nam phải chi đến 3,5 tỷ USD để nhập khẩu than.

IEEFA cho rằng việc tăng giá than làm ảnh hưởng và gây rủi ro về giá cả hàng hóa, gây thâm hụt thương mại. Đồng thời giá than tăng đặt ra nhu cầu cấp bách cần đa dạng hóa hệ thống sản xuất điện, để kết hợp thêm các nguồn năng lượng tái tạo.

Việc giá than tăng gấp đôi từ đầu năm 2016 chủ yếu là do chính sách của Trung Quốc chuyển đổi thị trường than, duy trì lợi nhuận nhất định cho các công ty khai thác than trong nước. Nước này cũng đang chuyển đổi sang năng lượng sạch và trong năm 2017 Trung Quốc dự tính sẽ sẽ có thêm khoảng 50 gigawatt điện mặt trời.

Hiện giá điện mặt trời và điện gió ở Ấn Độ đã giảm gần 50% kể từ đầu năm 2016 khiến cho mức giá bán buôn xuống 38 USD/MWh. Do đó, các nhà máy nhiệt điện sử dụng than nhập khẩu mới không thể cạnh tranh ở mức giá thấp như thế này và đầu tư vào năng lượng tái tạo đang là xu hướng để tăng trưởng ổn định.

Nhập khẩu than 10 tháng đầu năm 2017

 

Tên thị trường

10T/2017

(%) so sánh 10T/2017 với cùng kỳ

Tấn

USD

Lượng

Trị giá

Tổng kim ngạch NK

11.654.151

1.194.616.865

0,86

56,14

Indonesia

4.511.051

296.392.493

101,8

184,92

Australia

3.065.196

365.342.699

-16,85

43,08

Nga

2.041.894

198.862.485

-38,87

-9,24

Trung Quốc

924.739

185.852.832

-39,52

42,02

Malaysia

148.429

7.444.615

10,26

12,02

Nhật Bản

5.407

1.640.752

8,620,97

2,678,82