Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc mặc dù giảm rất mạnh 39,2% về lượng và giảm 30% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng vẫn dẫn đầu thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 24% thị phần. Cụ thể, tổng lượng gạo xuất khẩu chính ngạch đi Trung Quốc 10 tháng đầu năm 2018 đạt 1,24 triệu tấn, thu về 636,15 triệu USD. Giá xuất khẩu đạt trung bình 514,5 USD/tấn, tăng 15% so với cùng kỳ. Riêng tháng 10/2018 xuất sang thị trường này đạt 110.118 tấn, tương đương 55,6 triệu USD, giảm nhẹ 0,3% về lượng nhưng tăng 9% về kim ngạch so với tháng 9/2018.

Indonesia – thị trường xuất khẩu gạo lớn thứ 2 của Việt Nam, chiếm 14% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 770.968 tấn, tương đương 361,91 triệu USD, tăng đột biến gấp 49,3 lần về lượng và gấp 65,8 lần về kim ngạch. Giá xuất khẩu đạt trung bình 469,4 USD/tấn, tăng 33,5%.    

Xuất khẩu gạo sang thị trường Philipines cũng tăng mạnh 38,7% về lượng và tăng 58,5% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 688.427 tấn, trị giá 312,6 triệu USD, chiếm 13,1% trong tổng lượng và chiếm 11,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước. Giá xuất khẩu tăng 14,3%, đạt 454 USD/tấn.

Xuất khẩu sang Malaysia đạt 461.194 tấn, trị giá 208,45 triệu USD, chiếm 8% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, tăng 1,5% về lượng và tăng 17,2% về kim ngạch. Giá xuất khẩu tăng 15,5%, đạt 452 USD/tấn.

Trong số các thị trường xuất khẩu gạo 10 tháng đầu năm nay thì có 50% số thị trường tăng kim ngạch và 50% số thị trường sụt giảm; trong đó ngoài thị trường Indonesia tăng đột biến như trên, thì còn một số thị trường cũng đạt mức tăng mạnh như: Ba Lan tăng 445% về lượng và tăng 523% về kim ngạch, đạt 3.564 tấn, tương đương 2,08 triệu USD; Thổ Nhĩ Kỳ tăng 276% về lượng và tăng 302% về kim ngạch, đạt 4.723 tấn, tương đương 2,72 triệu USD; Pháp tăng 286% về lượng và tăng 206% về kim ngạch, đạt 818 tấn, tương đương 603.816 USD; Iraq tăng 145% về lượng và tăng 165% về kim ngạch, đạt 240.000 tấn, tương đương 136,26 triệu USD. 

Tuy nhiên, xuất khẩu lại giảm mạnh ở một số thị trường như: Senegal giảm 96% về lượng, giảm 94% về kim ngạch, đạt 1.116 tấn, tương đương 460.008 USD; Bangladessh giảm 91% cả về lượng và kim ngạch, đạt 19.953 tấn, tương đương 8,62 triệu USD; Chile giảm 90,7% về lượng, giảm 81,9% về kim ngạch, đạt 409 tấn, tương đương 316.238 USD và Brunei giảm 81,7% về lượng, giảm 80% về kim ngạch, đạt 2.868 tấn, tương đương 1,26 triệu USD.

Thông tin từ Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NNPTNT) cho biết, khối lượng xuất khẩu gạo 11 tháng năm 2018 ước đạt 5,7 triệu tấn tương đương 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Dù giảm sút, nhưng Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của Việt Nam.
Trung Quốc tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 24,1% thị phần. Trong đó, thị phần xuất khẩu gạo Jasmine và gạo thơm của Việt Nam lớn nhất là Trung Quốc (25%); tiếp sau đó là Ghana (23%) và Bờ Biển Ngà (14%). Bên cạnh đó, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất gạo nếp Việt Nam, chiếm tới 82% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo nếp của Việt Nam, trị giá 272 triệu USD. Về gạo Japonica và gạo giống Nhật, hai thị trường xuất khẩu chủ yếu là Papua New Guinea (57%) và Trung Quốc (13%).
Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Indonesia (gấp 65,8 lần), Irắc (gấp 2,6 lần), Hồng Kông (tăng 71,1%), Philippin (tăng 58,5%) và Malaysia (tăng 17,2). Xuất khẩu gạo trắng chiếm 51% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 32%; gạo nếp 12% và gạo Japonica, gạo giống Nhật 5%.
Hướng tới kim ngạch 6,15 triệu tấn
Dự báo cả năm 2018, gạo xuất khẩu giữ vững đà tăng trưởng, kỳ vọng có thể đạt 6,15 triệu tấn với kim ngạch đạt 3,15 tỉ USD, tăng 5,7% về lượng và 19,6% về trị giá so với năm 2017. Mục tiêu này có thể đạt được bởi thị trường gạo trong những tháng cuối năm đang có tín hiệu nhập khẩu từ Indonesia và Philippines. Trong phiên mở thầu nhập 500.000 tấn gạo loại 25% tấm ngày 20/11/2018 của Philippines, Việt Nam đã giành được hợp đồng xuất khẩu với khối lượng 118.000 tấn. Dự báo Ai Cập sẽ phải nhập khẩu 500.000 tấn gạo trong đầu năm tới do giảm diện tích canh tác. Trong phiên thầu mua gạo quốc tế đầu tiên của Ai Cập trong năm 2018, có 1 mẫu gạo từ Việt Nam đã qua được vòng kiểm nghiệm.
Nguồn cung hạn chế đẩy giá lúa gạo lên cao
Tháng 11/2018, giá lúa gạo diễn biến tăng nhẹ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long do nhu cầu tiêu thụ cải thiện trong bối cảnh nguồn cung hạn hẹp. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa IR50404 tăng 200đ/kg, từ 5.500đ/kg lên 5.700đ/kg; lúa chất lượng cao OM 5451 ổn định ở mức 5.700đ/kg, gạo tẻ IR50404 ở mức 10.000đ/kg; gạo chất lượng cao tăng 500đ/kg lên mức 13.000đ/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.000đ/kg.
Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 tăng 100đ/kg lên mức 5.400đ/kg; lúa khô IR50404 ở mức 5.900đ/kg; gạo IR50404 tăng 2.000đ/kg lên mức 12.000đ/kg; gạo jasmine tăng 2.000đ/kg lên mức 14.000đ/kg.
Tại Bạc Liêu, giá lúa khô OM 5451 bán buôn giảm 50đ/kg xuống còn 6.150đ/kg. Tại Kiên Giang, lúa IR50404 tăng 200đ/kg lên mức 6.000 – 6.200đ/kg; lúa OM 4218 tăng 400đ/kg lên 6.400 - 6.600đ/kg; lúa OM 6976 tăng 200đ/kg lên mức 6.500 - 6.600đ/kg; lúa Jasmine tăng 200đ/kg lên mức 7.200 – 7.500đ/kg.

Xuất khẩu gạo 10 tháng đầu năm 2018

Thị trường

10T/2018

+/- so với cùng kỳ (%)*

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

5.248.447

2.644.564.196

2,97

15,66

Trung Quốc

1.236.486

636.151.166

-39,15

-30,02

Indonesia

770.968

361.911.557

4,826,31

6,478,04

Philippines

688.427

312.595.382

38,73

58,53

Malaysia

461.194

208.447.896

1,47

17,22

Ghana

351.253

202.618.750

4,93

13,29

Iraq

240.000

136.260.000

144,84

164,86

Bờ Biển Ngà

211.874

121.876.422

4,33

35,08

Hồng Kông (TQ)

73.245

41.616.561

56,22

71,11

Singapore

70.734

39.642.075

-18,83

-8,56

U.A.E

39.264

21.547.569

14,36

20,82

Mỹ

16.775

10.550.211

-15,65

-2,29

Bangladesh

19.953

8.619.643

-91,51

-91,3

Đài Loan (TQ)

14.923

7.407.996

-47,12

-40,64

Australia

8.614

5.728.581

-2,85

13,67

Algeria

11.550

5.199.868

-66,48

-61,36

Nga

8.472

3.844.400

-60,46

-53,76

Thổ Nhĩ Kỳ

4.723

2.717.378

276,33

301,59

Angola

4.029

2.280.146

-73,33

-60,68

Ba Lan

3.564

2.077.282

444,95

523,5

Nam Phi

3.478

1.953.996

-41,19

-28,15

Hà Lan

3.295

1.816.200

-4,24

15,92

Brunei

2.868

1.264.663

-81,67

-80,03

Ukraine

1.170

705.297

-78,45

-69,64

Pháp

818

603.816

285,85

205,79

Senegal

1.116

460.008

-95,53

-94,38

Tây Ban Nha

743

386.229

-8,72

6,17

Chile

409

316.238

-90,68

-81,87

Bỉ

521

304.734

-82,08

-75,02

 (*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)