Năm 2016, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 14 của New Zealand. Các mặt hàng Việt Nam có nhiều tiềm năng xuất khẩu sang New Zealand gồm: thủy sản (hiện Việt Nam là nhà cung cấp tôm đông lạnh lớn nhất cho New Zealand, chiếm 30% thị phần và chiếm tỷ trọng cao trên 43%, vượt qua Trung Quốc (23%) và Thái Lan (20%)); cà phê, hạt điều; dệt may; giày dép. Các nhà lãnh đạo hai nước khẳng định quyết tâm thúc đẩy kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng đạt mục tiêu 1,7 tỉ USD năm 2020...
Sang năm 2017, cụ thể là 8 tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang New Zealand tăng 23,49%, đạt 289,8 triệu USD so với cùng kỳ. Trong rổ hàng hóa xuất khẩu sang thị trường New Zealand, điện thoại các loại và linh kiện là mặt hàng chủ lực, chiếm 37,9% tổng kim ngạch, đạt 109,9 triệu USD, tăng 19,77% so với cùng kỳ. Đứng thứ hai về kim ngạch là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, tuy kim ngạch đạt 34,9 triệu USD, nhưng có mức tăng khá 49,19%, kế đến là giày dép các loại, đạt 18,5 triệu USD, tăng 7,68%...
Nhìn chung, 8 tháng đầu năm nay hàng hóa xuất khẩu sang New Zealand đều có tốc độ tăng trưởng, trong đó đáng chú ý nhóm hàng nông sản mặt hàng cà phê tăng khá, tăng 127,59% tuy kim ngạch đạt 2,1 triệu USD.
Đặc biệt mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng tuy chỉ đứng thứ 6 trong bảng xếp hạng kim ngạch đạt 14 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ mức độ tăng mạnh vượt trội so với cùng kỳ 2016, tăng 172,11%.

Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường New Zealand trong 8 tháng đầu năm 2017 thiếu vắng mặt hàng quặng và khoáng sản so với cùng kỳ.

Xuất khẩu sang thị trường New Zealand 8 tháng 2017 (ĐVT: USD)

Mặt hàng

8 tháng 2017

8 tháng 2016

So sánh cùng kỳ năm trước (%)

Tổng

289.839.254

234.700.925

23,49

điện thoại các loại và linh kiện

109.921.276

91.773.295

19,77

máy vi tính, sph điện tử và linh kiện

34.972.860

23.441.247

49,19

giày dép các loại

18.544.591

17.221.971

7,68

hạt điều

18.326.984

13.620.349

34,56

gỗ và sản phẩm gỗ

16.966.605

17.514.620

-3,13

máy móc, tbi, dụng cụ phụ tùng khác

14.069.774

5.170.548

172,11

hàng dệt, may

11.954.601

9.637.819

24,04

hàng thủy sản

10.791.620

11.360.734

-5,01

sản phẩm từ chất dẻo

6.873.231

5.365.619

28,10

sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

3.344.906

2.543.561

31,50

cà phê

2.180.543

958.102

127,59

Quặng và khoáng sản khác

 

1.104.113

-100,00

(tính toán theo số liệu thống kê TCHQ)
Đối với mặt hàng nông sản, Bộ trưởng Thương mại New Zealand Todd McClay khẳng định sẽ tạo điều kiện cho các mặt hàng nông sản của Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường New Zealand. Trước mắt, quả chôm chôm sẽ được New Zealand hoàn thành các thủ tục kiểm soát rủi ro và nhập khẩu ngay trong năm nay và sau này là các loại trái cây khác. Ngoài ra New Zealand sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc nâng cao năng lực và công nghệ sản xuất, chế biến và bảo quản sản phẩm nông nghiệp để đáp ứng các tiêu chuẩn cao của thị trường thế giới.