Tuy nhiên, hiện Việt Nam đang nhập siêu lớn từ Singapore. Trong 7 tháng đầu năm nay, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Singapore đạt 1,27 tỷ USD (giảm 33,8% so với cùng kỳ), hàng hóa nhập từ Singapore trị giá 2,92 tỷ (giảm 27,4%). Nhu vậy, Việt Nam nhập siêu từ thị trường này  tới 1,65 tỷ USD (giảm 21,5% so cùng kỳ).

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Singapore 7 tháng đầu năm sụt giảm mạnh, do hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ đạo đều bị sụt giảm như: xuất khẩu máy vi tính giảm 8,2%, đạt 214 triệu USD; xuất khẩu máy móc thiết bị giảm 14%, đạt 175,12 triệu USD; điện thoại và linh kiện giảm 18,4%, đạt 160,27 triệu USD; thủy sản giảm 2,6%, đạt 56,2 triệu USD; dệt may giảm 0,6%, đạt 38,4 triệu USD. Tuy nhiên, trong số những nhóm hàng xuất khẩu chủ đạo vẫn có nhóm hàng thủy tinh và sản phẩm thủy tinh tăng trưởng 20,5% so với cùng kỳ, đạt 189,87 triệu USD.

Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam có các thế mạnh về sản xuất, với các sản phẩm về gạo, cà phê, chè, các loại rau quả và sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Tuy nhiên, các sản phẩm nông sản của Việt Nam hiện có điểm yếu là khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch chưa tốt. Mặt khác, dù lượng xuất khẩu lớn, song giá trị thu lại còn thấp do hạn chế về chất lượng sản phẩm, cũng như chưa phát triển và xác lập được thương hiệu đối với người tiêu dùng trong khu vực và trên thế giới.

Ngược lại, các doanh nghiệp Singapore lại có thế mạnh về khâu chế biến, đóng gói, gia tăng giá trị… và đặc biệt là có quan hệ về thị trường khá rộng rãi. Singapore là một trung tâm trung chuyển hàng hóa đi các nơi trên thế giới, cùng với các thế mạnh về kinh nghiệm quản lý, chế biến và tiếp thị ra thị trường. Đây là những thế mạnh mà doanh nghiệp Việt Nam cần phải khai thác và học hỏi để nâng cao trình độ. Đặc biệt, sau khi tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN, điểm chính mà Việt Nam trông đợi đó là tiếp cận các thị trường khác thông qua Singapore.

Về đầu tư: Đảo quốc sư tử hiện có 1.643 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký đạt trên 37,9 tỷ USD, đứng thứ 3/116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và có mặt trong hầu hết ngành kinh tế của Việt Nam, từ thăm dò, khai thác dầu khí, sản xuất công nghiệp cho tới chế biến nông lâm hải sản, nhưng đặc biệt tập trung nhiều trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, dịch vụ và kinh doanh bất động sản. Các khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) tại Bình Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ngãi hoạt động hiệu quả và là biểu tượng cho quan hệ hợp tác hai nước. Năm 2016, hai bên đã kỷ niệm 20 năm thành lập VSIP tại Bình Dương.

Các dự án đầu tư của Singapore được đánh giá hiệu quả, triển khai nhanh, tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu trong chuyển dịch kinh tế vùng miền của Việt Nam. Nhận định từ giới chuyên gia thì hầu hết các dự án của nhà đầu tư Singapore tại Việt Nam hoạt động hiệu quả, đóng góp lớn vào việc tạo công ăn việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, diễn ra từ ngày 28 đến 30/8, nhằm tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XII, đưa các mối quan hệ quốc tế phát triển theo chiều sâu qua việc củng cố và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Singapore.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu sang Singapore 7 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Mặt hàng

7T/2016

7T/2015

+/- (%) 7T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

1.274.818.220

1.926.847.519

-33,84

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

214.030.562

233.091.809

-8,18

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

180.870.463

150.088.093

+20,51

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

175.119.180

203.568.637

-13,98

Điện thoại các loại và linh kiện

160.274.734

196.314.136

-18,36

Hàng thủy sản

56.213.821

57.704.420

-2,58

Phương tiện vận tải và phụ tùng

48.661.691

75.525.130

-35,57

Hàng dệt, may

38.411.707

38.629.034

-0,56

Xăng dầu các loại

28.766.080

41.724.356

-31,06

Giày dép các loại

25.661.356

28.470.356

-9,87

Gạo

24.108.197

37.859.817

-36,32

Giấy và các sản phẩm từ giấy

21.045.658

23.178.570

-9,20

Dây điện và dây cáp điện

18.205.085

22.923.904

-20,58

Hàng rau quả

16.146.209

14.630.589

+10,36

Sản phẩm từ sắt thép

14.312.586

14.515.824

-1,40

Dầu thô

12.875.752

474.874.516

-97,29

Sản phẩm từ chất dẻo

10.294.894

10.279.424

+0,15

Gỗ và sản phẩm gỗ

9.018.236

8.635.563

+4,43

Sản phẩm hóa chất

8.114.225

11.412.931

-28,90

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

7.973.378

9.563.354

-16,63

Sắt thép các loại

7.702.587

6.991.310

+10,17

Hạt tiêu

7.231.276

76.879.759

-90,59

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

6.393.840

5.986.304

+6,81

Hạt điều

5.519.899

5.603.173

-1,49

Cà phê

4.542.778

7.096.804

-35,99

Kim loại thường khác và sản phẩm

2.514.524

2.268.493

+10,85

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

2.397.012

2.340.066

+2,43

Sản phẩm từ cao su

1.484.942

1.605.797

-7,53

Sản phẩm gốm, sứ

1.446.631

2.218.001

-34,78

Chất dẻo nguyên liệu

1.121.792

1.477.841

-24,09

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

1.067.012

1.388.864

-23,17

Cao su

29.399

48.305

-39,14