Hàng dệt may là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, mang về rất nhiều ngoại tệ cho Việt Nam, chỉ đứng sau nhóm hàng điện thoại và linh kiện. Trong 7 tháng đầu năm 2018 đạt 16,52 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, nguyên liệu đầu vào của ngành dệt may là mặt hàng bông đang thiếu hụt nghiêm trọng, lượng bông sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 2% nhu cầu thị trường.

Trong năm 2017, kim ngạch nhập khẩu bông tăng mạnh 41,7% so với năm trước đó, đạt gần 2,36 tỷ USD và trong 7 tháng đầu năm nay, lượng bông nhập về Việt Nam đã đạt trên 1 triệu tấn, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm 2017, trị giá 1,87 tỷ USD, tăng 32,9%. Tính trung bình mỗi tháng, nước ta chi gần 268 triệu USD nhập khẩu bông. Giá bông nhập khẩu 7 tháng đầu năm nay tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 1.873,8 USD/tấn.

Bông nhập khẩu chủ yếu có xuất xứ từ Mỹ, Ấn Độ, Brazil, Australia. Trong đó, nhập từ thị trường Mỹ chiếm tới 52,8% trong tổng lượng bông nhập khẩu của cả nước và chiếm 54,2% trong tổng kim ngạch, đạt 528.436 tấn, tương đương 1,02 tỷ USD, tăng 16,9% về lượng và tăng 20,7% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Giá nhập khẩu trung bình tăng 3,2%, đạt 1.923,6 USD/tấn.

Bông nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ cũng tăng tương đối mạnh, tăng gần 44% cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 185.208 tấn, tương đương 314,56 triệu USD, chiếm trên 18% trong tổng lượng bông nhập khẩu của cả nước. Giá trung bình đạt 1.698,4 USD/tấn, tăng 0,4%.

Brazil tuy là thị trường đứng thứ 3 về cung cấp bông cho Việt Nam, chỉ chiếm trên 9% trong tổng lượng bông nhập khẩu của cả nước, đạt 91.826 tấn, tương đương 170,21 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ năm ngoái thì tăng mạnh nhất 297,6% về lượng và tăng 309,5% về kim ngạch. Giá cũng tăng 3%, đạt 1.853,6 USD/tấn.

Bông xuất xứ từ Australia nhập vào Việt Nam cũng tăng trên 100% kim ngạch, đạt 121,89 triệu USD; lượng tăng 96%, đạt 60.613 tấn và giá tăng 3%, đạt 2.011 USD/tấn.

Riêng bông khẩu từ Đài Loan 7 tháng đầu năm nay sụt giảm rất mạnh cả về giá, lượng và kim ngạch. Cụ thể, giá giảm 31,4%, đạt 1.338,7 USD/tấn, lượng giảm 25,8%, đạt 532 tấn và kim ngạch giảm 49%, đạt 0,71 triệu USD.

Lượng bông nhập từ Trung Quốc giảm rất mạnh 41,8% và kim ngạch cũng giảm 37,7%, đạt 317  tấn, tương đương 0,83 triệu USD. Giá ở mức cao nhất trong tất cả các thị trường, đạt trung bình 2.604 USD/tấn.   

Nhập khẩu bông 7 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

 

Thị trường

7T/2018

+/- so với cùng kỳ*

Lượng

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

1.000.516

1.874.762.310

29,34

32,92

Mỹ

528.436

1.016.500.471

16,9

20,68

Ấn Độ

185.208

314.555.107

43,41

43,99

Brazil

91.826

170.212.284

297,64

309,47

Australia

60.613

121.885.267

96,1

101,9

Bờ Biển Ngà

22.056

42.500.251

18,7

30,41

Hàn Quốc

2.862

3.799.688

112,31

101,99

Indonesia

2.866

3.702.216

48,81

62,05

Pakistan

897

1.106.441

-25,93

-24,96

Trung Quốc

317

825.497

-41,83

-37,7

Achentina

436

716.245

-85,91

-87,02

Đài Loan(TQ)

532

712.197

-25,8

-49,07

*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)