Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 9 tháng đầu năm 2017, nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô vào Việt Nam giảm 11,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, trị giá trên 2,29 triệu tấn; trong đó riêng tháng 9 đạt 205,53 triệu USD, giảm 6,5% so với tháng 8/2017.

Việt Nam nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô chủ yếu từ các thị trường Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan; trong đó, nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Hàn Quốc, với trị giá trên 560,03 triệu USD trong 9 tháng, chiếm 24,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, giảm 8,4% so với 9 tháng đầu năm 2016; thị trường lớn thứ 2 cung cấp linh kiện phụ tùng ô tô cho Việt Nam đó là Trung Quốc, với 469,74 triệu USD, chiếm 20,5%, giảm 8,6 %; xếp thứ 3 về kim ngạch là thị trường Nhật Bản đạt 444,82 triệu USD, chiếm 19,4%, giảm 23,5%.

Nhập khẩu nhóm hàng này từ thị trường các nước EU nói chung chỉ chiếm trên 8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 185,6 triệu USD ; và nhập từ các nước Đông Nam Á chiếm gần 23% trong tổng kim ngạch, đạt 524,46 triệu USD.   

Kim ngạch nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô các loại vào Việt Nam 9 tháng đầu năm 2017 sụt giảm ở đa số các thị trường; trong đó, nhập khẩu từ thị trường Nga, Malaysia và Hà Lan giảm mạnh so với cùng kỳ, với mức giảm lần lượt 70,6%, 37% và 30%. Tuy nhiên, nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô từ thị trường Belarus lại tăng mạnh 313,8% so cùng kỳ, đạt 2,51 triệu USD; nhập khẩu từ Ấn Độ cũng tăng mạnh 131%, đạt 46,42 triệu USD; nhập từ Đức tăng 43%, đạt 130,74 triệu USD.

Nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô 9 tháng đầu năm 2017. ĐVT: USD

Thị trường

T9/2017

(%) T9/2017 so với T8/2017

9T/2017

(%) 9T/2017 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch NK

205.526.010

-6,46

2.294.258.592

-11,4

Hàn Quốc

29.655.662

-28,42

560.025.547

-8,38

Trung Quốc

44.063.191

-7,15

469.737.201

-8,56

Nhật Bản

53.271.776

+25,32

444.824.462

-23,52

Thái Lan

36.862.075

+1,85

376.950.999

-24,31

Đức

13.714.091

-10,24

130.741.138

+42,74

Indonesia

9.020.567

-31,87

115.983.974

+22,51

Hà Lan

4.038.169

-19,2

47.965.950

-30,42

Ấn Độ

4.682.487

-39,78

46.420.973

+130,99

Malaysia

1.098.352

-27,24

17.776.685

-37,52

Philippines

1.621.671

+0,77

13.749.908

-3,41

Mỹ

457.102

-23,53

5.866.918

+0,74

Tây Ban Nha

193.490

+68,45

4.682.489

-2,23

Brazil

38.486

-95,59

4.260.146

-4,42

Belarus

497.660

-53,64

2.506.673

+313,81

Nga

842.298

+37,27

2.455.873

-70,64

Italia

279.300

+8,01

2.208.837

-15,34

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nền công nghiệp ô tô Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội song cũng đối mặt với không ít khó khăn do cạnh tranh ngày càng gay gắt. Đặc biệt là sau năm 2018, thuế nhập khẩu các dòng xe từ ASEAN sẽ là 0% nếu đạt tỉ lệ nội địa hóa từ 40% trở lên.

Ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước mặc dù đã có những kết quả nhất định, nhưng vẫn chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ô tô thực sự (phần lớn mức độ lắp ráp đơn giản), dây chuyền sản xuất chủ yếu gồm 4 công đoạn chính là hàn, sơn, lắp ráp, kiểm tra, chưa tạo đựơc sự hợp tác – liên kết và chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp trong sản xuất lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng linh kiện. Chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn.

Tính đến nay, tỉ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi mới chỉ đạt khoảng 7-10%, trong đó Thaco đạt 15-18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Innova. Các sản phẩm đã được nội địa hóa mang hàm lượng công nghệ rất thấp như: săm, lốp ô tô, ghế ngồi, gương, kính, bộ dây điện, ắc-quy, sản phẩm nhựa…Trong khi mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010.

Hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa các nước trong khu vực trung bình đã đạt được 65-70%, Thái Lan đạt tới 80%. Như vậy, nếu các nhà sản xuất ô tô trong nước không sớm có những giải pháp hữu hiệu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chắc chắn sẽ khó lòng cạnh tranh với thị trường khu vực khi Viêt Nam gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA).

Ông Phạm Anh Tuấn- Trưởng tiểu ban chính sách Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam- cho rằng, chính sách thuế và các chính sách liên quan đến ô tô cần ổn định và đồng bộ nhằm giúp tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, Chính phủ nên xem xét giảm hoặc bãi bỏ thuế nhập khẩu đối với linh kiện CKD từ năm 2018 cho cả các nhà sản xuất ô tô và các nhà sản xuất linh kiện ô tô. Cần có ưu đãi sản xuất cho các nhà sản xuất nội địa để duy trì sản xuất khi thị trường chưa đủ lớn.

Về phía Bộ Công Thương, để tiếp tục thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô phát triển, kịp thời đưa ra những chính sách thiết thực và phù hợp với thực tiễn, Bộ Công Thương mong muốn các doanh nghiệp cùng phối hợp để thúc đẩy sự liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô và các doanh nghiệp sản xuất linh kiện và phụ tùng với sự hỗ trợ của Chính phủ thông qua Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017.