Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 5/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc... Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 154 triệu USD, tăng 69,02% so với tháng trước đó và tăng 64,24% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 571 triệu USD, chiếm 35,4% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 5/2019 đạt hơn 42 triệu USD, giảm 22,73% so với tháng 4/2019 và giảm 25,34% so với tháng 5/2018. Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt  hơn 290 triệu USD, tăng 14,61% so với cùng kỳ năm 2018.

Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 27 triệu USD, tăng 444% so với tháng 4/2019 nhưng giảm 63,58% so với tháng 5/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 114 triệu USD, giảm 38,46% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 1,6 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 0,28% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Australia với 14,9 triệu USD, tăng 152,91% so với cùng kỳ năm 2018, Canada với 21,8 triệu USD, tăng 140,68% so với cùng kỳ năm 2018, Tây Ban Nha với hơn 5 triệu USD, tăng 45,94% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Chile với hơn 4,6 triệu USD, tăng 42,86% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN & NL 5 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trường

T5/2019

+/- So với

T5/2018 (%)

5T/2019

+/- So với 5T/2018 (%)

Tổng KN

353.454

28,5

1.614.079

0,3

Argentina

154.359

69,0

571.539

-1,2

Ấn Độ

13.673

-22,2

86.914

-0,1

Anh

119

-33,7

478

-22,5

Áo

411

50,5

1.475

-51,3

Bỉ

533

-51,2

4.964

-67,8

Brazil

27.926

444

114.371

-38,5

UAE

3.334

247,0

10.349

-65

Canada

6.150

-2,9

21.803

140,7

Chile

802

5,3

4.688

42,9

Đài Loan (TQ)

8.304

65,0

28.067

-19,4

Đức

687

-23,4

4.317

4,8

Hà Lan

1.408

50,1

7.910

2,8

Hàn Quốc

5.034

27,6

20.661

4,5

Mỹ

42.190

-22,7

290.840

14,6

Indonesia

3.448

-35,9

29.828

-29,6

Italia

3.437

-3,8

23.718

10,8

Malaysia

3.600

80,2

12.454

-8,7

Mexico

79

-68,3

1.049

-50,9

Nhật Bản

206

-0,8

1.002

-14,8

Australia

3.214

-2,2

14.989

152,9

Pháp

2.661

29,9

14.213

9,2

Philippin

1.800

50,7

7.675

4,0

Singapore

1.519

8,8

7.162

4,2

Tây Ban Nha

686

60,2

5.074

45,9

Thái Lan

13.638

50,2

52.158

19,4

Trung Quốc

17.024

22,3

79.741

-11,3

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 5 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 5 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

5T/2019

+/- So với 5T/2018

Lượng (nghìn tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Lúa mì

1.045

294.517

-58

-49,7

Ngô

4.112

862.586

0,5

6,3

Đậu tương

769

304.965

7

-2,5

Dầu mỡ động thực vật

 

270.974

 

-5,4

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 5/2019 đạt 293 nghìn tấn với kim ngạch đạt 82 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,045 triệu tấn, với trị giá hơn 294 triệu USD, giảm 58% về khối lượng và giảm 49,73% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  5 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 46% thị phần; Nga chiếm 17%, Canada chiếm 11%, Brazil chiếm 8% và Mỹ chiếm không đáng kể 3%.

Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ, Australia và Canada. Trong 5 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 86,38% về lượng và giảm mạnh 83,24% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 70,6% về lượng và giảm 71,46% về trị giá so với cùng kỳ. Canada giảm 32,94% về lượng và giảm 31,93% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Australia giảm 17,73% về lượng và giảm 7,89% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Duy nhất chỉ có Brazil tăng mạnh 10,98% về lượng và 41,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 5/2019 đạt 179 nghìn tấn với trị giá hơn 72 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 769 nghìn tấn và 304 triệu USD, tăng 6,96% về khối lượng song giảm 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 5/2019  đạt hơn 1,147 triệu tấn với trị giá đạt 235 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 4 triệu tấn, trị giá hơn 862 triệu USD, tăng  0,51% về khối lượng và tăng 6,29% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 56% và 41% thị phần. Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm 2019 nhập khẩu ngô từ thị trường Argentina giảm mạnh 11,86% về lượng và 6,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.