Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Thái Lan trong 4 tháng đầu năm 2017 đạt  gần 1,4 tỷ USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong số 36 nhóm hàng chủ yếu của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Thái Lan, thì đứng đầu về kim ngạch là nhóm hàng điện thoại và linh kiện với 339 triệu USD, chiếm 24,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang Thái Lan, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước. Đứng thứ 2 về kim ngạch là nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 172,4 triệu USD, tăng 66%, chiếm 12,4%. Tiếp đến nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 103,8 triệu USD, tăng 6%, chiếm 7,5%.

Trong 4 tháng đầu năm 2017, hàng hóa xuất sang Thái Lan hầu hết đều tăng trưởng về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016; trong đó, một số nhóm hàng đạt mức tăng trưởng cao như: Dầu thô (tăng 108%, đạt 85,4 triệu USD); kim loại thường (tăng 204,6%, đạt 22,4 triệu USD); giấy và các sản phẩm từ giấy (tăng 197,8%, đạt 6,9 triệu USD); vải mành, vải kỹ thuật (tăng 93%, đạt 10,7 triệu USD); than đá (tăng 89%, đạt 1,5 triệu USD).

Tuy nhiên, xuất khẩu xăng dầu và quặng, khoáng sản sang thị trường Thái Lan lại sụt giảm mạnh so với cùng kỳ, với mức giảm tương ứng  98% và 54% về kim ngạch.

Vào ngày 23/5/2017 Cục Xuc tiến thương mại Việt Nam và Ngân Hàng Kasikorn-Thailand đồng tổ chức Hội thảo “Xúc tiến thương mại, đầu tư Việt Nam – Thái Lan: Thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược” tại Hà Nội, có sự tham dự và đồng chủ trì bởi ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và ông Winichai Chaemchaeng, Thứ trưởng Bộ Thương mại Thái Lan.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho rằng Hội thảo được tổ chức vào thời điểm phù hợp, trong bối cảnh các quốc gia trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đang đẩy mạnh việc thực hiện các cam kết… nhằm hướng tới 4 mục tiêu của AEC bao gồm: Hình thành một thị trường và một cơ sở sản xuất thống nhất; hình thành một khu vực kinh tế cạnh tranh; phát triển kinh tế cân bằng; và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Hai bên cần tổ chức nhiều hoạt động, xúc tiến thương mại, đầu tư; tiếp tục khuyến khích thu hút doanh nghiệp Thái Lan đầu tư vào Việt Nam, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở rộng kinh doanh sang thị trường Thái Lan, góp phần cân bằng cán cân thương mại.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nhận định, mục tiêu 20 tỷ USD kim ngạch thương mại song phương vào năm 2020 hoàn toàn có khả năng đạt được. Trong những năm sắp tới, thương mại hai nước sẽ tăng, khi hai nước tiến tới thực hiện hiệp định thương mại tự do chung của ASEAN và những hiệp định chung khác.

Về phía Việt Nam, tính đến ngày 1/1/2015, Việt Nam đã cắt giảm về 0% đối với hơn 8.600 dòng thuế. Số còn lại gồm 669 dòng thuế sẽ được giảm xuống 0% vào năm 2018. Về phía Thái Lan, hiện nay hơn 9.500 dòng thuế thuộc lộ trình cắt giảm trong biểu cam kết thuế quan ATIGA đã được xóa bỏ toàn bộ từ năm 2012.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, Chính phủ hai nước đang tích cực phối hợp thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng được các ưu đãi và tăng cường xuất khẩu.

Về đầu tư, trong thời gian tới, Chính phủ Việt Nam sẽ có những chính sách phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và sản xuất nguyên vật liệu tạo sự gắn kết giữa doanh nghiệp FDI nói chung và doanh nghiệp FDI Thái Lan nói riêng với doanh nghiệp trong nước.

Đại diện Bộ Thương mại Thái Lan, Thứ trưởng Winichai Chaemchaeng khẳng định, Việt Nam là bạn hàng lớn thứ hai của Thái Lan trong ASEAN và Thái Lan là bạn hàng thương mại lớn thứ nhất của Việt Nam. Hai nước đều ở trên lục địa đất liền, kết nối giao thông thuận tiện. Hai nước cũng có những chính sách thông thoáng, thực hiện nhiều biện pháp giảm rào cản, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa lưu thông. Thứ trưởng cũng bày tỏ sự tin tưởng vào sự hợp tác hai nước sẽ góp phần rất lớn vào sự củng cố, hợp tác đoàn kết trong ASEAN.

Trong khuôn khổ Hội thảo cũng đã diễn ra lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Trung tâm Xúc tiến đầu tư phát triển công thương (thuộc Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương) và Ngân hàng Kasikorn. Theo đó, hai bên thống nhất thực hiện các chương trình phối hợp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam và Thái Lan trong hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại song phương.

Được biết, hiện nay, Ngân hàng Kasikorn đã mở 2 văn phòng đại diện tại Hà Nội và TPHCM, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thông tin nghiên cứu thị trường và kết nối các doanh nghiệp Thái Lan với các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các doanh nghiệp khác trong khu vực Đông Nam Á thông qua sự liên kết với các ngân hàng thương mại trong khu vực.

Là một trong những quốc gia có quan hệ hợp tác đầu  tư với Việt Nam từ rất sớm, ngay sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, tính đến hết tháng 3/2017, các nhà đầu tư Thái Lan đã đầu tư vào 458 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 8,13 tỷ USD, đứng thứ 10 trong tổng số 115 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ xuất khẩu sang Thái Lan 4 tháng đầu năm 2017

ĐVT: USD

Mặt hàng

4T/2017

4T/2016

+/-(%) 4T/2017 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

1.386.922.065

1.123.383.937

+23,46

Điện thoại các loại và linh kiện

339.058.364

278.281.817

+21,84

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

172.421.637

103.903.812

+65,94

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

103.796.176

97.841.075

+6,09

Phương tiện vận tải và phụ tùng

99.532.052

100.980.440

-1,43

Dầu thô

85.389.432

41.079.639

+107,86

Hàng thủy sản

70.676.338

76.210.445

-7,26

Sản phẩm từ sắt thép

48.875.090

27.484.892

+77,83

Sắt thép các loại

48.436.762

35.146.635

+37,81

Hàng dệt, may

29.327.007

23.760.691

+23,43

Xơ, sợi dệt các loại

26.531.993

18.878.458

+40,54

Kim loại thường khác và sản phẩm

22.425.336

7.362.192

+204,60

Hạt điều

19.760.839

18.079.674

+9,30

Sản phẩm hóa chất

18.642.256

17.095.935

+9,04

Hàng rau quả

17.670.790

15.082.807

+17,16

Sản phẩm từ chất dẻo

15.555.954

14.616.107

+6,43

Giày dép các loại

14.034.948

12.118.904

+15,81

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

13.279.036

11.833.222

+12,22

Dây điện và dây cáp điện

12.441.261

6.780.163

+83,50

Chất dẻo nguyên liệu

12.128.570

10.556.713

+14,89

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

11.940.078

13.236.843

-9,80

Sản phẩm gốm, sứ

10.931.608

12.770.288

-14,40

Vải mành, vải kỹ thuật khác

10.720.677

5.557.784

+92,89

Hạt tiêu

10.271.573

11.823.263

-13,12

Cà phê

9.997.068

7.821.352

+27,82

Giấy và các sản phẩm từ giấy

6.930.395

2.327.243

+197,79

Gỗ và sản phẩm gỗ

6.559.952

5.927.290

+10,67

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

6.046.266

5.997.633

+0,81

Hóa chất

5.400.272

4.266.072

+26,59

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

5.375.860

5.366.183

+0,18

Sản phẩm từ cao su

4.805.443

3.337.608

+43,98

Phân bón các loại

1.883.646

1.623.822

+16,00

Than đá

1.487.941

785.400

+89,45

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

1.255.538

1.160.665

+8,17

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

1.028.743

665.852

+54,50

Xăng dầu các loại

298.954

18.620.906

-98,39

Quặng và khoáng sản khác

27.840

61.023

-54,38