Cụ thể, 8 tháng đầu năm 2018 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan đạt 3,727 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2017. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan cao hơn mức bình quân chung cả nước (cả nước 16,7%).
Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan các mặt hàng như điện thoại, dầu thô, máy vi tính sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị… trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 996 triệu USD, chiếm 26,7% tỷ trọng – đây là nhóm hàng đạt kim ngạch lớn nhất trong quan hệ thương mại giữa hai nước tính đến thời điểm này (kể cả chiều xuất và chiều nhập khẩu).
Ngoài điện thoại và linh kiện, nhiều nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan đạt kim ngạch từ 100 triệu USD trở lên, trong đó gồm có: Dầu thô; máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; phương tiện vận tải và phụ tùng; máy móc thiết bị; hàng thủy sản; sản phẩm từ sắt thép và sắt thép các loại. Đáng chú ý, trong nhóm hàng đạt kim ngạch trên 100 triệu USD, thì sắt thép là nhóm hàng có tốc độ tăng kim ngạch lớn nhất so với cùng kỳ, tăng 75,14% đối với sản phẩm từ thép và tăng 64,26% đối với sắt thép các loại, ngược lại thì máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 10,83%.
Đặc biệt, trong 8 tháng đầu năm nay, hai mặt hàng than đá và xăng dầu của Việt Nam xuất sang Thái Lan với tốc độ tăng đột biến, tuy kim ngạch chỉ đạt tương ứng 16,8 triệu USD và 45,1 triệu USD nhưng đều tăng gấp hơn 2 lần mỗi mặt hàng so với cùng kỳ 2017.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu từ Thái Lan về Việt Nam kim ngạch đạt 7,543 tỷ USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ 2017. Việt Nam cũng có rất nhiều nhóm hàng nhập từ Thái Lan có kim ngạch lên đến hàng trăm triệu USD trong 8 tháng qua. Đơn cử là hàng điện gia dụng và linh kiện; chất dẻo nguyên liệu; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; rau quả; xăng dầu; ô tô nguyên chiếc; linh kiện, phụ tùng ô tô…
Ô tô là một trong những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh từ Thái Lan về Việt Nam. Tính đến hết tháng 8, kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ Thái Lan về Việt Nam đã đạt 437,3 triệu USD; linh kiện, phụ tùng ô tô đạt 402,8 triệu USD… Nguyên nhân là bởi Thái Lan chính là thị trường đầu tiên đáp ứng các quy định tại Nghị định 116/2017/NĐ-CP liên quan đến quản lý ô tô nhập khẩu. Đầu tháng 3 vừa qua, lô hàng hơn 2.000 xe mang thương hiệu Honda sản xuất tại nhà máy ở Thái Lan đã được đưa về Việt Nam, là lô ô tô thương mại đầu tiên của năm 2018. Liên tiếp từ đó đến nay, Thái Lan luôn duy trì được vị thế là nhà nhập khẩu ô tô lớn nhất của cả nước.
Với tổng trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 11,27 tỷ USD tính hết tháng 8, Thái Lan là đối tác đầu tiên trong khu vực ASEAN cán mốc kim ngạch thương mại hai chiều 10 tỷ USD với Việt Nam, bỏ xa các vị trí kế tiếp như Malaysia, Singapore, Indonesia… hàng tỷ USD.
Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại với Thái Lan, Việt Nam đang nhập siêu tương đối lớn với con số trong 8 tháng đầu năm đã đạt 3,8 tỷ USD.
Để giảm dần gánh nặng nhập siêu và hỗ trợ xuất khẩu hàng Việt Nam sang Thái Lan, tới đây Bộ Công Thương sẽ tổ chức các Tuần hàng Việt Nam tại Thái Lan; tích cực đàm phán để Thái Lan mở cửa nhập khẩu thêm các loại rau, quả từ Việt Nam; vận động các doanh nghiệp tự tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá hàng hóa tại Thái Lan; kêu gọi doanh nghiệp tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu…

Chủng loại hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Thái Lan 8 tháng 2018

Mặt hàng

8T/2018

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng

 

3.726.941.436

 

21,09

Điện thoại các loại và linh kiện

 

996.136.741

 

35,71

Dầu thô

607.240

343.499.282

-11,6

23,81

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

295.242.093

 

-10,83

Phương tiện vận tải và phụ tùng

 

252.497.015

 

16,59

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

 

250.490.692

 

17

Hàng thủy sản

 

185.518.973

 

15,32

Sản phẩm từ sắt thép

 

178.149.387

 

75,14

Sắt thép các loại

220.437

151.729.330

75,31

64,26

Hàng dệt, may

 

99.320.658

 

48,96

Cà phê

43.710

80.790.561

94,26

55,21

Xơ, sợi dệt các loại

27.886

72.322.581

7,75

26,35

Hạt điều

5.693

52.643.567

-4,69

-12,63

Sản phẩm hóa chất

 

51.029.620

 

31,25

Xăng dầu các loại

78.486

45.265.790

47,91

128,82

Sản phẩm từ chất dẻo

 

44.001.064

 

29,04

Giày dép các loại

 

38.129.235

 

21,94

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

 

35.706.713

 

23,08

Kim loại thường khác và sản phẩm

 

35.464.254

 

-18,05

Hàng rau quả

 

34.618.554

 

37,95

Dây điện và dây cáp điện

 

31.965.909

 

18,87

Chất dẻo nguyên liệu

14.818

26.705.474

-6,05

5,98

Gỗ và sản phẩm gỗ

 

23.378.525

 

61,08

Giấy và các sản phẩm từ giấy

 

21.068.401

 

48,87

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

 

20.881.281

 

-24,41

Vải mành, vải kỹ thuật khác

 

19.118.255

 

-7,02

Sản phẩm gốm, sứ

 

18.903.569

 

-21,84

Than các loại

146.430

16.833.394

93,82

127,21

Hạt tiêu

3.976

16.420.631

19,69

-26,13

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

 

13.300.049

 

5,38

Hóa chất

 

10.803.893

 

3,97

Sản phẩm từ cao su

 

9.062.530

 

-20,1

Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù

 

8.429.221

 

-12,97

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

 

4.482.846

 

48,17

Phân bón các loại

8.749

2.586.193

-44,26

-43,81

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

 

1.781.535

 

17,42

Quặng và khoáng sản khác

10

42.745

-79,17

-23,26

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)