Nhật Bản là thị trường chủ yếu tiêu thụ than của Việt Nam, chiếm tới 48% về lượng và 47% trong tổng kim ngạch xuất khẩu than của cả nước. Trong 9 tháng đầu năm xuất sang Nhật 354.749 tấn than, trị giá 34,5 triệu USD (giảm 23,5% về lượng và giảm 34% về kim ngạch so với cùng kỳ).

Tiếp theo là các thị trường: Philippines 106.500 tấn; Malaysia 83.009 tấn; Indonesia 76.904 tấn.

Trong số 9 thị trường chính xuất khẩu than của Việt Nam hầu hết là sụt giảm cả về lượng và kim ngạch, nhưng đáng chú ý là xuất khẩu than sang thị trường Malaysia đạt mức tăng mạnh 151% về lượng và tăng 149% về kim ngạch so với cùng kỳ. 

Ngược lại, nhập khẩu than đá 9 tháng đầu năm 2016 lại tăng mạnh 147,6% về lượng và 82,1% về trị giá, đạt hơn 10,51 triệu tấn, trị giá 655 triệu USD. Than đá được nhập khẩu chủ yếu từ các thị trường sau: Australia với 3,23 triệu tấn, tăng 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước, chiếm 30,7% lượng than nhập khẩu cả cả nước, với đơn giá bình quân 61 USD/tấn; thị trường Liên bang Nga với 3,08 triệu tấn, tăng  2,9 lần so với cùng kỳ năm trước, và chiếm tỷ trọng 29,3%, đơn giá bình quân than đá nhập khẩu từ Liên Bang Nga là 64 USD/tấn; Nhập khẩu than đá xuất xứ Trung Quốc đạt 1,46 triêu tấn, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 13,9%, đơn giá bình quân 82 USD/tấn.

Trong bối cảnh xuất khẩu than giảm mạnh, Bộ Tài chính đề xuất Bộ Công Thương điều chỉnh kế hoạch xuất khẩu than giai đoạn 2017 - 2020 từ 2 triệu tấn/năm lên 3 - 4 triệu tấn/năm.

Bộ Tài chính cho biết, hiện nay mức thuế tài nguyên đối với mặt hàng than là 10% và 12% quy định tại Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10/12/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII về Biểu mức thuế suất tài nguyên. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2016. Theo đó việc xem xét sửa đổi thuế suất thuế tài nguyên thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hiện tập đoàn Than có sản lượng khai thác hàng năm của 3 mỏ lớn tại Quảng Ninh là: Vàng Danh, Uông Bí, Năm Mẫu là 8,5 triệu tấn than; trong đó hơn 3 triệu tấn than là chất lượng cao (chiếm 35%), trong nước ít có nhu cầu sử dụng. Hiện nay giá than nhập thấp hơn giá bán trong nước, nên các nhà máy điện, xi măng giảm lượng mua từ TKV, nên lượng tồn kho tăng, trong khi lượng than xuất khẩu theo kế hoạch tính cho từ năm 2017 - 2020 chỉ 2 triệu tấn/năm. Do đó, để tháo gỡ khó khăn trước mắt cho TKV trong bối cảnh hiện nay, đề nghị Bộ Công Thương xem xét tăng kế hoạch xuất khẩu cho giai đoạn năm 2017-2020 lên 3-4 triệu tấn/năm. Đây là giải pháp có tính khả thi hơn vì vừa giảm được lượng than tồn kho mà trong nước ít có nhu cầu sử dụng.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu than đá 9 tháng đầu năm 2016

Thị trường

9T/2016

+/- (%) 9T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

732.079

73.874.436

-48,49

-50,93

Nhật Bản

354.749

34.461.856

-23,49

-33,98

Malaysia

83.009

10.697.582

+151,53

+148,55

Indonesia

76.904

9.490.507

-36,35

+3,17

Philippines

106.500

7.032.500

-12,5

-21,9

Hàn Quốc

40.383

4.207.485

-82,95

-79,94

Đài Loan

21.986

2.498.605

+11,25

-2,97

Thái Lan

15.484

1.551.372

-83,49

-85,31

Ấn Độ

8.068

1.100.104

-74,82

-77,12

Lào

3.088

272.368

-95,32

-96,35