Theo số liệu ước tính từ Cục XNK (Bộ Công Thương), xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn trong tháng 3/2019 của Việt Nam đạt 280 nghìn tấn, trị giá 104 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần về lượng (tức tăng 104,6%) và tăng 97% trị giá so với tháng 2/2019; nếu so sánh với tháng 3/2018 giảm 12,5% về lượng và 6,4% trị giá. Trong đó riêng mặt hàng sắn đạt 84 nghìn tấn, trị giá 18 triệu USD, tăng gấp 2,2 lần về lượng (tức tăng 212,4%) và gấp 2,3 lần trị giá (tức tăng 249,3%) so với tháng 3/2018.
Như vậy, nâng kim ngạch xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn 3 tháng đầu năm 2019 lên 689 nghìn tấn, trị giá 256 triệu USD, giảm 22,8% về lượng và 10,6% trị giá so với cùng kỳ. Cùng với đó, mặt hàng sắn cũng đạt 178 nghìn tấn, trị giá 34 triệu USD, giảm 57,7% về lượng và 60,6% trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Về giá xuất khẩu ước đạt bình quân trong tháng 3/2019 là 104 USD/tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, giảm 3,7% so với tháng 2/2019 , nhưng tăng 7% so với tháng 3/2018. Tính chung bình quân 3 tháng đầu năm 2019 đạt 371 USD/tấn, tăng 15,8% so với cùng kỳ.
Riêng mặt hàng sắn, tháng 3/2019 ước đạt bình quân 18 USD/tấn, tăng 11,8% so với tháng 2/2019, nhưng giảm 5,6% so với tháng 3/2018. Tính chung 3 tháng 2019 đạt 190 USD/tấn, giảm 6,8% so với cùng kỳ.
Tại thị trường nội địa, trong 10 ngày đầu tháng 3/2019 giá sắn nguyên liệu trong nước giảm nhẹ do nhu cầu yếu. Tại Tây Ninh, giá sắn thu mua tại nhà máy dao động quanh mức 2.700 – 2.850 đồng/kg, giảm 150 đồng/ kg so với cuối tháng 2/2019. Tại Kon Tum, giá sắn thu mua tại nhà máy dao động quanh mức 2.300 – 2.550 đồng/ kg, giảm 50 đồng/kg so với cuối tháng 02/2019.
Hiện tại, các đơn vị kinh doanh sắn lát chủ yếu nhập hàng dự trữ với hy vọng vụ sắn 2018 - 2019 sẽ khả quan hơn so với vụ 2017 - 2018.
Do nguồn nguyên liệu cuối vụ giảm, nên chào giá xuất khẩu của các nhà máy Việt Nam tăng lên, trong khoảng 440 - 450 USD/tấn FOB cảng TP HCM. Tuy nhiên, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam vẫn trong trạng thái ảm đạm do nhu cầu mua từ phía Trung Quốc chưa có nhiều.
Xét về cơ cấu thị trường, Trung Quốc vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 89,18% trong 2 tháng đầu năm nay, đạt 364,9 nghìn tấn, trị giá 134,3 triệu USD, giảm 32,3% về lượng và 16,6% trị giá so với cùng kỳ. Giá xuất bình quân sang thị trường này đạt 367,98 USD/tấn, tăng 23,18%. Kế đến là Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á.
Đối với thị trường Hàn Quốc, đây là thị trường có mức độ tăng vượt trội so với những thị trường nhập khẩu sắn của Việt Nam, tuy đứng sau Trung Quốc nhưng tăng gấp 5,5 lần về lượng (tức tăng 445,88%) và gấp 6,6 lần trị giá (tức tăng 563,63%), đạt tương ứng 14 nghìn tấn, trị giá trên 4 triệu USD. Giá xuất bình quân sang thị trường này cũng tăng 21,57% đạt 289,48 USD/tấn.
Như vậy, nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm về xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 2/2019 và 2 tháng đầu năm là do sự sụt giảm về cầu nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc. Thực tế, từ năm 2018 đến nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục áp dụng chính sách duy trì sản lượng dự trữ ngô ở mức thấp thông qua đấu giá định kỳ. Cơ quan dự trữ ngũ cốc quốc gia Sinograin thông báo đã giảm được 100 triệu tấn ngô trong năm 2018, khiến giá ngô trở nên cạnh tranh hơn dẫn tới sự sụt giảm các sản phẩm thay thế ngô, đặc biệt là sắn lát. Bên cạnh đó, nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc giảm do nước này tăng nhập khẩu sắn chính ngạch từ Thái Lan, đồng thời, kiểm soát nghiêm ngặt các quy định về nhãn mác, bao bì, thông tin sản phẩm tinh bột sắn Việt Nam nhập khẩu qua các cửa khẩu.
Ở chiều ngược lại, Nhật Bản lại giảm mạnh nhập khẩu sắn từ Việt Nam, giảm 61,47% về lượng và giảm 37,7% trị giá, tương ứng với 42 tấn; 36,75 nghìn USD. Giá xuất bình quân đạt 875,07 USD/tấn, tăng 61,68% so với cùng kỳ.
Thị trường xuất khẩu sắn và sản phẩm 2 tháng năm 2019

Thị trường

2T/2019

+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Trung Quốc

364.984

134.307.861

-32,3

-16,6

Hàn Quốc

14.029

4.061.068

445,88

563,63

Philippines

7.340

3.109.329

4,39

17,97

Malaysia

5.000

2.160.013

0,95

5,74

Đài Loan

4.743

2.096.598

-11,66

-13,56

Nhật Bản

42

36.753

-61,47

-37,7

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)