Trung Quốc – thị trường lớn nhất cung cấp sắt thép nhập khẩu cho Việt Nam, trong tháng 1 cũng giảm mạnh 26,4% về lượng so với cùng kỳ, nhưng giá trị vẫn tăng 9,5% (đạt 678.865 tấn, trị giá 342,8 triệu USD). Mức giá sắt thép nhập khẩu trung bình từ Trung Quốc trong tháng 1 đạt 505 USD/tấn, tăng khoảng 48% so với mức giá trung bình của tháng 1/2016 (chỉ đạt 342 USD/tấn).

Hàn Quốc – thị trường lớn thứ 2 cung cấp sắt thép cho Việt Nam tăng mạnh 27% về lượng và tăng 54% kim ngạch so cùng kỳ (đạt 175.564 tấn, trị giá 108,3 triệu USD).

Đáng chú ý, trong tháng đầu năm nay nhập khẩu sắt thép từ  Ấn Độ, Braxin và Anh tăng đột biến so với cùng kỳ năm 2016. Cụ thể, nhập từ Ấn Độ tăng 2.912% về lượng và tăng 1.430% về trị giá, nhập từ Braxin tăng 10.260% về lượng và tăng 2.710% về trị giá, nhập từ Anh tăng 1.040% về lượng và tăng 225% về trị giá.

Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thép tháng 1/2017 đều thấp hơn so với thời điểm cuối năm 2016, do tháng 1 trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán, nhu cầu sử dụng thép xây dựng không nhiều, đồng thời, các nhà thương mại cũng đã dự trữ một lượng hàng lớn từ trước Tết.

Tính chung tháng 1/2017, tổng lượng sản xuất sản phẩm thép đạt hơn 1,37 triệu tấn, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2016, nhưng giảm 12,7% so với tháng 12/2016. Tổng lượng tiêu thụ các sản phẩm thép tháng 1 chỉ đạt hơn 823.000 tấn, giảm 21,2% so với cùng kỳ và giảm 45,2% so với tháng tháng 12/2016.

Trong tháng 1, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 158.000 tấn thép xây dựng, song chỉ tiêu thụ hơn 79.000 tấn, đạt 35,7% so với tháng 12/2016 và bằng 76,2% so với cùng kỳ.

Các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Thép (VnSteel) sản xuất hơn 135.000 tấn, bán ra hơn 78.000 tấn, bằng 45,7% so với tháng 12/2016 và bằng 63,5% so với cùng kỳ.

Lượng tiêu thụ tôn mạ cũng thấp hơn nhiều so với tháng 12/2016. Tôn Đông Á chỉ đạt 49%, Nam Kim đạt gần 51%, Tôn Phương Nam đạt hơn 63%, Blue Scope VN đạt 80%.

Duy chỉ có Tập đoàn Hoa Sen sản xuất gần 143.000 tấn, bán hơn 91.400 tấn (trong đó, xuất khẩu hơn 64.500 tấn) và đạt hơn 100% so với tháng 12/2016...

Đáng chú ý, năm 2016 và đầu năm 2017, nhập khẩu thép tiếp tục tăng cao so với năm 2015, đặc biệt là với các mặt hàng mà Việt Nam còn dư khả năng sản xuất. Cụ thể như phôi thép, số lượng phôi nhập khẩu năm 2016 là hơn 1,11 triệu tấn, chiếm 12,6% thị phần phôi cả nước; tôn mạ và sơn phủ màu có số lượng nhập khẩu năm 2016 ước hơn 1,86 triệu tấn, tăng 30,7% so với năm 2015 và chiếm tới trên 50% thị phần nội địa; thép hợp kim nhập nhẩu hơn 8,17 triệu tấn, trong đó có khoảng 1,9 triệu tấn thép dài có thể đã được sử dụng như thép xây dựng thông thường.

Dự báo, tiêu thụ thép trong tháng 2/2017 và thời gian tới sẽ tăng hơn so với tháng 1, nhưng sẽ tăng không nhiều do nhà thương mại sẽ giảm hàng tồn đã đầu cơ từ trước.

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường, song sắt thép trong nước vẫn liên tục phải cạnh tranh về giá với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc ồ ạt tràn vào Việt Nam khiến các doanh nghiệp sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn.

Do vậy, để thúc đẩy ngành sản xuất thép trong nước, Bộ sẽ tiếp tục áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, tự vệ tạm thời để bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nước, đảm bảo cạnh tranh công bằng với hàng nhập khẩu; theo dõi sát tác động của các biện pháp này tới sản xuất, tiêu dùng trong nước để có sự điều chỉnh kịp thời nếu cần.

Sau các biện pháp tự vệ tạm thời, Bộ Công Thương đã áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với hai mặt hàng này. Theo đó, thuế suất đối với phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam sẽ là 21,3% trong vòng 1 năm, từ ngày 22/3/2017 đến 21/3/2018. Thuế suất này sẽ lần lượt giảm về 19,3% và 17,3% vào các năm tiếp theo và từ 22/3/2020 trở đi, thuế suất sẽ về 0%.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về nhập khẩu sắt thép tháng 1/2017

ĐVT: USD

Thị trường

T1/2017

T1/2016

+/-(%) T1/2017 so với T1/2016

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

Trị giá

Tổng kim ngạch

1.232.039

664.048.947

1.485.746

554.631.359

-17,08

+19,73

Trung Quốc

678.865

342.825.050

922.585

313.011.636

-26,42

+9,52

Hàn Quốc

175.564

108.287.016

137.967

70.362.575

+27,25

+53,90

Nhật Bản

127.678

76.867.088

231.677

89.987.093

-44,89

-14,58

Ấn Độ

90.323

45.586.477

2.998

2.979.093

+2912,78

+1430,21

Đài Loan

88.000

48.754.424

120.766

45.147.865

-27,13

+7,99

Braxin

29.837

14.027.553

288

499.077

+10260,07

+2710,70

Thái Lan

18.763

10.923.451

4.505

3.566.081

+316,49

+206,32

Indonesia

3.211

1.919.230

641

644.622

+400,94

+197,73

Malaysia

2.150

2.794.477

2.726

3.122.755

-21,13

-10,51

Đức

1.237

1.191.792

232

453.980

+433,19

+162,52

NewZealand

1.059

377.768

2.397

563.678

-55,82

-32,98

Nam Phi

824

914.131

308

356.210

+167,53

+156,63

Bỉ

622

224.029

231

282.292

+169,26

-20,64

Hoa Kỳ

544

486.940

944

1.606.014

-42,37

-69,68

Tây Ban Nha

502

398.489

267

282.081

+88,01

+41,27

Hà Lan

493

396.161

206

218.825

+139,32

+81,04

Anh

365

246.970

32

75.977

+1040,63

+225,06

Thổ Nhĩ Kỳ

303

192.316

59

52.697

+413,56

+264,95

Italia

295

289.720

366

404.377

-19,40

-28,35

Pháp

289

339.367

480

944.050

-39,79

-64,05

Hồng Kông

285

218.900

127

143.751

+124,41

+52,28

Australia

145

175.607

2.674

944.950

-94,58

-81,42

Singapore

134

238.657

186

345.472

-27,96

-30,92

Phần Lan

127

368.234

267

714.092

-52,43

-48,43

Thuỵ Điển

110

524.668

82

581.809

+34,15

-9,82

Mexico

103

79.298

0

0

*

*

Nga

103

254.459

50.992

14.298.400

-99,80

-98,22

Canada

64

25.638

0

0

*

*

Áo

50

148.732

29

425.221

+72,41

-65,02

Philippines

44

48.273

0

0

*

*

Đan Mạch

11

40.627

0

0

*

*