Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng năm 2016. Cụ thể, cà phê xuất sang thị trường Đức 383,5 triệu USD, chiếm 15,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt mức tăng trưởng 37,3% so với cùng kỳ năm ngoái; xuất sang Hoa Kỳ đạt 332,6 triệu USD, chiếm 13,2%, tăng 45,2%.

Đứng sau 2 thị trường chủ đạo trên, là các thị trường:  Italia đạt 186,8 triệu USD, Tây Ban Nha 167 triệu USD, Nhật Bản 152,6 triệu USD.

Xét về mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cà phê trong 9 tháng đầu năm nay, thì thấy hầu các thị trường đều đạt mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, xuất khẩu cà phê tăng mạnh ở một số thị trường như: Mexico (+264,87%); Ai Cập (+96,4%); Nam Phi (+92,6%); Philippin (74,3%), Trung Quốc (55,3%), Angiêri (59,7%), Hoa Kỳ (45,2%), Đức (37,3%). Tuy nhiên, xuất khẩu cà phê sang NewZealand và Singapore lại sụt giảm mạnh, với mức giảm tương ứng 69,79% và 32,3% so cùng kỳ.

Tại thị trường trong nước, giá cà phê biến động tăng mạnh từ tháng 9/2016 đến nay. Giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên cuối tháng 10 đã lên mức 45.000 – 45.100 đồng/kg (tăng 3.400 – 3.700 đồng/kg so với cuối tháng 9). Giá cà phê tăng mạnh do thị trường lo ngại về sản lượng cà phê của Brazil và Việt Nam sẽ sụt giảm do điều kiện thời tiết bất lợi.

Mặc dù giá cà phê nội địa tăng nhưng vẫn không thúc đẩy được lượng bán ra khi những người bán găm hàng, hy vọng giá tiếp tục tăng. Nhìn chung, thị trường cà phê trong nước biến động tăng trong 9 tháng qua. So với thời điểm cuối năm ngoái, giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên hiện đã tăng 11.300 – 11.400 đồng/kg.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá cà phê thế giới và Việt Nam tăng cao do thời tiết khô hạn tại nhiều vùng trồng cà phê chủ chốt trên thế giới khiến sản lượng giảm. Dự báo, giao dịch cà phê Việt Nam sẽ chậm lại cho tới khi vụ thu hoạch thực sự bắt đầu

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Thị trường

9T/2016

9T/2015

+/- (%) 9T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

2.515.405.940

1.973.467.806

+27,46

Đức

383.479.197

279.322.878

+37,29

Hoa Kỳ

332.631.778

229.112.921

+45,18

Italia

186.794.923

158.649.315

+17,74

Tây Ban Nha

166.961.223

175.004.122

-4,60

Nhật Bản

152.599.803

132.393.536

+15,26

Bỉ

95.458.331

96.407.079

-0,98

Nga

89.944.781

78.034.570

+15,26

Algeria

88.623.940

55.482.942

+59,73

Philippin

85.638.885

49.128.832

+74,31

Trung Quốc

81.362.178

52.390.267

+55,30

Mexico

72.204.108

19.788.891

+264,87

Anh

66.289.357

52.168.611

+27,07

Ấn Độ

58.265.306

35.721.452

+63,11

Thái Lan

53.222.758

44.910.533

+18,51

Pháp

52.487.954

46.641.013

+12,54

Malaysia

44.122.577

30.648.158

+43,96

Hàn Quốc

42.470.227

43.418.753

-2,18

Indonesia

28.362.374

24.292.584

+16,75

Ba Lan

24.750.634

26.221.287

-5,61

Australia

24.614.641

21.006.377

+17,18

Hà Lan

22.357.659

21.078.019

+6,07

Bồ Đào Nha

17.965.602

17.295.257

+3,88

Ai Cập

17.814.284

9.071.015

+96,39

Israel

16.459.629

13.401.492

+22,82

Nam Phi

15.172.479

7.876.971

+92,62

Canada

9.904.801

8.808.600

+12,44

Hy Lạp

9.888.555

7.614.756

+29,86

Rumani

8.233.893

10.133.708

-18,75

Singapore

5.995.348

8.855.645

-32,30

Thụy Sĩ

4.886.858

3.631.574

+34,57

Đan Mạch

2.486.080

1.920.964

+29,42

Campuchia

1.024.417

970.232

+5,58

NewZealand

978.505

3.238.535

-69,79