Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 9/2018 cả nước xuất khẩu 17.481 tấn hạt tiêu, thu về 50,65 triệu USD, giảm 22% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 8/2018. Giá hạt tiêu xuất khẩu tháng 9 giảm 2,3%, đạt 2.897,6 USD/tấn. Cộng chung trong cả 9 tháng đầu năm 2018, lượng hạt tiêu xuất khẩu đạt 192.902 tấn, tương đương 634,68 triệu USD, tăng nhẹ 6,4% về lượng nhưng kim ngạch giảm mạnh 34,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất khẩu giảm mạnh 38,4%, đạt trung bình 3.290,2 USD/tấn.
Xuất khẩu hạt tiêu trong 9 tháng đầu năm nay sang gần như toàn bộ các thị trường bị sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ. Trong đó, xuất sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ sụt giảm mạnh nhất 38,6% về lượng và giảm 61,5% về kim ngạch, đạt 2.401 tấn, tương đương 6,65 triệu USD. Ngoài ra, xuất khẩu còn giảm mạnh ở các thị trường như: U.A.E giảm 33,4% về lượng và giảm 59,3% về kim ngạch, đạt 8.048 tấn, tương đương 23,56 triệu USD; Bỉ giảm 23,2% về lượng và giảm 57,9% về kim ngạch, đạt 378 tấn, tương đương 1,58 triệu USD; Tây Ban Nha giảm 24,7% về lượng và giảm 53,3% về kim ngạch, đạt 2.057 tấn, tương đương 7,06 triệu USD. Chỉ có 2 thị trường vẫn đạt được mức tăng cả về lượng và kim ngạch đó là: Singapore tăng 116% về lượng và tăng 22% kim ngạch, đạt 1.685 tấn, tương đương 5,52 triệu USD; Ba Lan tăng 96,9% về lượng và tăng 24,7% kim ngạch, đạt 1.534 tấn, tương đương 5,22 triệu USD.
Mỹ là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại hạt tiêu của Việt Nam, đạt 34.179 tấn, trị giá 120,86 triệu USD, chiếm 17,7% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 19% trong tổng kim ngạch, tăng 7,2% về lượng nhưng giảm 35,2% về kim ngạch so với 9 tháng đầu năm 2017. Giá hạt tiêu xuất sang thị trường này giảm mạnh 39,6%, chỉ đạt 3.536,2 USD/tấn.
Ấn Độ - thị trường lớn thứ 2 chiếm gần 9% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu của cả nước, đạt 16.968 tấn, tương đương 53,69 triệu USD, tăng trưởng 30,6% về lượng nhưng kim ngạch giảm 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất khẩu giảm mạnh trên 37%, chỉ đạt 3,164 USD/tấn. Hạt tiêu xuất sang thị trường Pakistan chiếm trên 4% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu của cả nước, đạt 8.828 tấn, trị giá 27,86 triệu USD, tăng 17,7% về lượng nhưng giảm 29,5% về kim ngạch. Giá xuất khẩu giảm mạnh trên 40% so với cùng kỳ, đạt 3.156,4 USD/tấn. Xuất khẩu sang Đức đạt 6.466 tấn, trị giá 24,54 triệu USD, tăng 2,8% về lượng nhưng giảm 37,2% về kim ngạch. Xuất khẩu sang U.A.E giảm mạnh 33,4% về lượng và giảm 59,3% về kim ngạch, đạt 8.048 tấn, tương đương 23,56 triệu USD.
Tại thị trường trong nước, vào tuần đầu tháng 10/2018, giá tiêu đen xô ở thị trường phía Nam đồng loạt tăng thêm 1.000 đ/kg, giá tiêu đen tại Bà Rịa - Vũng Tàu lên mức 56.000 đ/kg, Bình Phước 55.000 đ/kg và các thị trường còn lại dao động trong khoảng 52.000 – 54.000 đ/kg. Theo các công ty kinh doanh địa phương, giá tiêu đen tăng là do nhu cầu giao ngay của nhà xuất khẩu nhằm đáp ứng đủ các hợp đồng đã ký với khách hàng truyền thống. Tuy nhiên, sức tăng đã làm cho thị trường nóng lên có lẽ do nguồn hàng mua từ nước ngoài chưa về kịp như dự kiến chứ không do nhu cầu tăng của khách. Trái lại, nhu cầu tiêu trắng lại không tăng tương xứng. Tại Đồng Nai, giá tiêu trắng chào bán 77.000 – 78.000 đ/kg, mức giá ổn định kể từ đầu tháng 10/2018, trong khi giá tiêu đen đã tăng tới 2.000 – 3.000 đ/kg.
Tiếp sau thông tin nông dân Indonesia và Malaysia bỏ bê không chăm sóc một số diện tích hồ tiêu đáng kể do mức giá quá thấp so với kỳ vọng, thị trường cũng rộ lên nhiều diện tích hồ tiêu Việt Nam bị nấm bệnh héo chết nhanh tàn phá. Nhiều nông dân trồng tiêu bị phá sản sau khi họ đã bỏ ra không ít tiền của, kể cả vay mượn ngân hàng để cứu chữa nhưng cũng bất lực, đành để cho vườn tiêu bị hư hỏng. Do vậy dự kiến sản lượng tiêu toàn cầu năm tới sẽ không tăng cho dù một số diện tích trồng mới trong những năm gần đây cho năng suất đáng kể.
 Xuất khẩu hạt tiêu 9 tháng đầu năm 2018

Thị trường

9T/2018

+/-so với cùng kỳ (%)*

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

192.902

634.677.344

6,42

-34,43

Mỹ

34.179

120.863.014

7,22

-35,18

Ấn Độ

16.968

53.686.987

30,59

-17,99

Pakistan

8.828

27.864.399

17,71

-29,52

Đức

6.466

24.535.548

2,75

-37,22

U.A.E

8.048

23.563.697

-33,38

-59,31

Hà Lan

5.373

22.954.525

6,8

-29,46

Ai Cập

6.994

18.940.500

-3,45

-41,66

Thái Lan

4.284

17.411.520

18,05

-27,24

Anh

3.597

14.954.000

7,63

-34,34

Hàn Quốc

3.829

13.455.030

-8,79

-46,12

Nhật Bản

2.268

11.004.776

27,34

-26,54

Philippines

3.902

10.331.894

16,44

-26,19

Nga

3.548

9.920.544

-7,17

-47,39

Canada

2.056

7.861.590

-0,24

-35,31

Pháp

2.232

7.670.012

29,47

-26,1

Nam Phi

2.066

7.661.547

5,19

-33,69

Australia

1.742

7.290.870

11,74

-23,71

Tây Ban Nha

2.057

7.060.716

-24,65

-53,28

Thổ Nhĩ Kỳ

2.401

6.650.168

-38,62

-61,5

Singapore

1.685

5.519.133

116,03

22,04

Ba Lan

1.534

5.215.292

96,92

24,7

Ukraine

1.701

4.966.402

60,93

-0,14

Malaysia

957

3.607.311

-5,43

-40,11

Italia

790

2.900.046

-7,06

-44,39

Kuwait

457

1.603.687

10,39

-31,46

Bỉ

378

1.575.400

-23,17

-57,86

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)