Riêng tháng 8/2018, kim ngạch đạt 362,84 triệu USD, tăng 5% so với tháng 7/2018 và tăng 12,6% so với tháng 8/2017.

Thị trường Trung Quốc chiếm trên 74% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam, đạt 1,99 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017. Xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc có lợi thế vì vị trí địa lý, tập quán, thị hiếu tiêu dùng khá tương đồng với Việt Nam. Tuy nhiên, các yêu cầu về chất lượng hàng hóa tại Trung Quốc cũng đang tăng và là xu hướng chung của thế giới. Các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng tìm hiểu vụ mùa tại Trung Quốc để trồng các loại rau quả phù hợp và không trùng vụ mùa của họ để tránh trường hợp ‘được mùa mất giá.’

Ngoài ra, Việt Nam còn xuất khẩu rau quả sang các thị trường khác như: Đông Nam Á đạt 99,1 triệu USD, tăng 16,6%; Mỹ 86,99 triệu USD, tăng 26,3%; Hàn Quốc 76,96 triệu USD, tăng 21,4%; EU 74,65 triệu USD, tăng 6,4%; Nhật Bản 74,32 triệu USD, giảm 7,4%.

Trong 8 tháng đầu năm nay rau quả của Việt Nam xuất khẩu sang phần lớn các thị trường đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó tăng mạnh ở một số thị trường như: Campuchia tăng 401,8%, đạt trên 2,16 triệu USD. Xuất khẩu rau quả sang thị trường Kuwait cũng được đặc biệt chú ý với mức tăng rất mạnh, riêng tháng 8/2018 xuất sang thị trường này tăng 11,4 lần so với tháng 7/2018, đạt 1,05 triệu USD, tính chung cả 8 tháng tăng 94,3% so với cùng kỳ, đạt 2,29 triệu USD.

Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng tăng mạnh ở một số thị trường như: Pháp tăng 43,5%, đạt 15,35 triệu USD; Thái Lan tăng 38%, đạt 34,62 triệu USD; Australia tăng 36%, đạt 23,18 triệu USD và Canada tăng 26,4%, đạt 14,48 triệu USD.

Tuy nhiên, xuất khẩu sụt giảm mạnh ở các thị trường như: Indonesia giảm 82,9%, đạt 0,52 triệu USD; Ukraine giảm 26%, đạt 0,65 triệu USD; Đài Loan giảm 12,6%, đạt 25,49 triệu USD.

Bộ NN&PTNT dự báo năm nay giá trị xuất khẩu rau quả sẽ đạt trên 4 tỷ USD, tuy nhiên theo tính toán thì với giá trị xuất khẩu hiện nay, ngành hàng rau quả của Việt Nam đang có dấu hiệu chững lại. Doanh nghiệp hiện nay phải đối mặt với một loạt các vấn đề về cạnh tranh thị trường, các biện pháp bảo hộ thông qua những hàng rào kỹ thuật khắt khe hơn ở các thị trường nhập khẩu. Do đó cần đẩy mạnh việc phổ biến, tư vấn, đào tạo doanh nghiệp về áp dụng tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của các thị trường nước ngoài, cùng với đó, khắc phục các tồn tại trong vấn đề an toàn thực phẩm, quy cách bao gói, nhãn hiệu… đối với mặt hàng rau quả.

Xuất khẩu rau quả 8 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Thị trường

T8/2018

% tăng giảm so với T7/2018*

8T/2018

% tăng giảm so với cùng kỳ*

Tổng kim ngạch XK

362.835.835

5,08

2.691.102.797

14,66

Trung Quốc

272.880.588

6,63

1.994.100.033

11,58

Mỹ

12.808.951

4,97

86.988.460

26,27

Hàn Quốc

9.097.724

-7,99

76.955.528

21,38

Nhật Bản

8.502.074

-2,42

74.317.947

-7,43

Hà Lan

5.717.815

5,06

41.425.839

-3,43

Malaysia

4.714.308

7,17

36.463.157

13,34

Thái Lan

1.852.760

-17,25

34.618.554

37,95

U.A.E

3.260.680

34,74

26.788.221

14,9

Đài Loan (TQ)

4.268.405

22,68

25.493.617

-12,57

Australia

6.003.168

87,35

23.179.343

36,04

Nga

2.096.555

1,43

21.785.030

2,81

Singapore

2.236.624

13,65

19.249.313

2,51

Pháp

1.554.915

-21,02

15.345.191

43,47

Canada

1.752.826

-3,92

14.477.949

26,44

Hồng Kông (TQ)

1.779.787

8,75

13.547.120

4,32

Đức

1.380.401

-1,09

10.329.614

20,18

Lào

816.387

50,33

6.090.100

11,77

Anh

533.131

-36,77

4.087.754

-5,8

Italia

590.923

-24,28

3.459.787

-4,23

Kuwait

1.054.563

1,036,03

2.285.221

94,31

Campuchia

68.401

-15,03

2.157.903

401,76

Ukraine

90.910

-3,03

647.651

-26,05

Indonesia

116.699

1,01

520.013

-82,88

 (*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ