Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2017  kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đạt gần 15,5 tỷ USD (tăng 11% so với cùng kỳ năm 2016). Đáng chú ý, nước ta vẫn duy trì được vị thế xuất siêu sang thị trường quan trọng này là 9,4 tỷ USD; trong đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ lượng hàng hóa trị giá 12,4 tỷ USD, tăng gần 8,7% so với cùng kỳ năm 2016. Nhập khẩu từ Hoa Kỳ đạt trên 3 tỷ USD, tăng 22%.

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là đối tác thương mại lớn thứ 2 của nước ta sau Trung Quốc.

Hiện nay, Hoa Kỳ cũng là thị trường số 1 đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Đứng đầu là nhóm hàng dệt may với kim ngạch đạt 3,6 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2016, chiếm trên 29% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giá các loại sang Hoa Kỳ và chiếm tới 49% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước 4 tháng đầu năm 2017.

Đứng thứ 2 về kim ngạch là nhóm hàng giày dép với 1,5 tỷ USD, chiếm 12%, tăng 13,9%. Tiếp đến nhóm hàng  điện thoại và linh kiện đạt 1,4 tỷ USD, chiếm 11,2%, giảm 5% so cùng kỳ.

Xét về mức tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ 4 tháng đầu năm 2017, thì thấy đa số các nhóm hàng đều đạt mức tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ; trong đó, đáng chú ý là nhóm máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tuy kim ngạch chỉ đạt 18,7 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ thì có mức tăng trưởng đột biến tới 987%. Bên cạnh đó là một số nhóm hàng cũng đạt mức tăng trưởng cao như:  Thức ăn gia súc và nguyên liệu (tăng 78%, đạt 7,2 triệu USD); cao su (tăng 78%, đạt 17triệu USD); cà phê (tăng 43,7%, đạt 206 triệu USD);

Tuy nhiên, xuất khẩu đá quý, kim loại quý và hạt tiêu xuất sang Hoa Kỳ sụt giảm mạnh so với cùng kỳ, với mức giảm tương ứng 36,3% và 36,6% về kim ngạch.

Nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp giữa hai nướcViệt Nam – Hoa Kỳ, vào ngày 11/5/2017, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Trần Thanh Nam đã có buổi làm việc với ông Robert Macke, Giám đốc Văn phòng phụ trách các Hiệp định và các Vấn đề Khoa học, Cơ quan Nông nghiệp Đối ngoại, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA. Thứ trưởng Trần Thanh Nam mong muốn USDA sớm công nhận các thủ tục liên quan để xoài, vú sữa Việt Nam có thể xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Đồng thời hỗ trợ phía Việt Nam về mặt kỹ thuật cũng như các dự án liên quan đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ, trong đó có việc hỗ trợ khóa đào tạo chuyên gia Việt Nam về chứng nhận sản phẩm hữu cơ. Đối với lĩnh vực bảo vệ thực vật, Thứ trưởng Trần Thanh Nam đề nghị phía Hoa Kỳ chuyển giao nội dung chương trình kiểm tra để phía Việt Nam nắm được quy trình và tiếp tục hỗ trợ việc xác định mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Đặc biệt, theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, vừa qua USDA có chương trình thanh tra cá da trơn, Bộ NN&PTNT Việt Nam thấy rằng có một số điểm chưa phù hợp với điều kiện của Việt Nam cũng như quốc tế, vì vậy, mong muốn tiếp tục tăng cường trao đổi, thảo luận cùng các đơn vị chức năng của USDA để làm rõ thêm một số nội dung.

Trao đổi về vấn đề thanh tra cá da trơn, ông Robert Macke cho biết, những năm qua phía Hoa Kỳ đã nỗ lực giải quyết những vấn đề quan ngại của Việt Nam. Đồng thời, ông cũng cho biết, phía Hoa Kỳ cam kết ủng hộ Việt Nam về vấn đề này và trong thời gian chuyển tiếp sẽ cố gắng để việc chuyển giao diễn ra một cách thuận lợi nhất.

Tại buổi làm việc, hai bên tiếp tục có các thảo luận về các chủ đề liên quan như: hợp tác về an toàn thực phẩm trong APEC, các vấn đề trao đổi thương mại song phương.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất  khẩu sang Hoa Kỳ 4 tháng đầu năm 2017

ĐVT: USD

Mặt hàng

4T/2017

4T/2016

+/-(%) 4T/2017 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

12.444.975.167

11.451.463.426

+8,68

Hàng dệt, may

3.636.577.802

3.399.847.906

+6,96

Giày dép các loại

1.514.928.219

1.330.360.175

+13,87

Điện thoại các loại và linh kiện

1.392.475.026

1.466.181.598

-5,03

Gỗ và sản phẩm gỗ

959.496.798

825.533.334

+16,23

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

816.801.287

820.095.604

-0,40

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

813.723.167

632.217.692

+28,71

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

439.400.077

424.859.519

+3,42

Hàng thuỷ sản

360.975.613

407.739.040

-11,47

Phương tiện vận tải và phụ tùng

315.232.871

227.274.245

+38,70

Hạt điều

278.790.083

225.178.333

+23,81

Cà phê

206.007.714

143.356.140

+43,70

Sản phẩm từ chất dẻo

115.764.184

101.205.426

+14,39

Sản phẩm từ sắt thép

113.457.527

99.193.413

+14,38

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

111.706.369

96.824.305

+15,37

Sắt thép các loại

109.540.867

107.166.428

+2,22

Hạt tiêu

87.818.140

138.550.082

-36,62

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

74.324.454

116.698.073

-36,31

Kim loại thường khác và sản phẩm

70.773.685

58.947.897

+20,06

Vải mành, vải kỹ thuật khác

51.002.691

55.664.333

-8,37

Hàng rau quả

34.575.221

29.922.611

+15,55

Sản phẩm từ cao su

34.470.849

31.615.702

+9,03

Giấy và các sản phẩm từ giấy

32.061.567

34.071.802

-5,90

Sản phẩm gốm, sứ

25.468.177

19.776.601

+28,78

Dây điện và dây cáp điện

24.536.222

20.054.003

+22,35

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

18.703.241

1.719.908

+987,46

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

18.337.235

20.431.676

-10,25

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

18.248.031

17.519.874

+4,16

Cao su

16.909.417

9.495.740

+78,07

Dầu thô

14.197.445

19.668.815

-27,82

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

13.997.510

17.213.790

-18,68

Hóa chất

12.756.535

16.145.508

-20,99

Bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc

11.872.407

10.668.366

+11,29

Sản phẩm hóa chất

9.754.609

12.964.077

-24,76

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

7.176.009

4.030.617

+78,04

Xơ, sợi dệt các loại

5.747.194

8.378.503

-31,41

Gạo

4.784.547

5.932.758

-19,35

Chè

1.888.731

2.015.813

-6,30