Đối với lúa mì, đây là chủng loại được nhập về nhiều nhất, chiếm 48% thị phần, đạt 1,49 triệu tấn, trị giá 299,9 triệu USD, tăng 75,1% về lượng và tăng 54,5% về trị giá so với quý I/2016.
Việt Nam nhập khẩu lúa mì từ các thị trường như Canada, Hoa Kỳ và Australia, trong đó chủ yếu nhập từ Australia, chiếm trên 30% thị phần, đạt 433,1 nghìn tấn, trị giá 97,1 triệu USD, đứng thứ hai là Canada chiếm 16,3% và cuối cùng là Hoa Kỳ chiếm 0,12%.

Đứng thứ hai sau lúa mì là ngô, chiếm 47,5% thị phần, đạt 1,47 triệu tấn, trị giá 306,8 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu ngô trong thời gian này lại suy giảm cả lượng và trị giá, giảm 29,3% về lượng và giảm 25,9% về trị giá. Việt Nam nhập khẩu ngô chủ yếu từ Braxin, chiếm 31,6% tổng lượng ngô nhập khẩu, đạt 468 nghìn tấn, trị giá 93,7 triệu USD, giảm 72,24% về lượng và giảm 71,58% về trị giá so với cùng kỳ. Thị trường lớn thứ hai sau Braxin là Achentina, tuy nhiên lượng ngô nhập từ thị trường này giảm nhưng kim ngạch tăng trưởng so với quý I/2016, tương ứng với 389,5 nghìn tấn, trị giá 82,3 triệu USD,giảm 3,45% về lượng, tăng 9,93% về trị giá. Đặc biệt, nhập khẩu ngô từ Thái Lan chỉ đạt 51,4 nghìn tấn, trị giá 18 triệu USD, nhưng lại có tốc độ tăng mạnh đột biến, tăng 1983,97% về lượng và tăng 144,57% về trị giá so với cùng kỳ.

 

Đối với đậu tương, trong quý I/2017 đã nhập khẩu 137,1 nghìn tấn, trị giá 61,9 triệu USD, giảm 57,4% về lượng và giảm 52,1% về trị giá so với quý I/2016, tính riêng tháng 3/2017, nhập khẩu đậu tương tăng 27,8% về lượng và 28% về trị giá so với tháng 2/2017 – đây cũng là tháng tăng đầu tiên sau hai tháng suy giảm liên tiếp – đạt tương ứng 60,5 nghìn tấn, trị giá 27,3 triệu USD.

Việt Nam nhập khẩu đậu tương từ các thị trường Achentina, Canada và Hoa Kỳ, trong đó chủ yếu nhập từ Hoa Kỳ chiếm 68,92% thị phần, thứ hai là Canada chiếm 17,21% và cuối cùng là Achentina chiếm 0,89%.