Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, kết thúc năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Ai Cập kim ngạch chỉ đạt 293,3 triệu USD, giảm 18,93% so với năm 2015.

Việt Nam xuất khẩu sang Ai Cập chủ yếu các nhóm hàng nông sản, công nghiệp, máy móc thiết bị… trong đó chủ yếu xuất nhóm hàng nông sản, chiếm 0,3% tổng kim ngạch, đạt 108,9 triệu USD, trong đó thủy sản và hạt tiêu là mặt hàng chủ lực. Thủy sản chiếm phần lớn 15,6% tổng kim ngạch, với 45,8 triệu USD, tuy nhiên tốc độ xuất khẩu mặt hàng này giảm, giảm 28,63%, đứng thứ hai là hạt tiêu, tăng 17,57%, đạt 42,6 triệu USD, kế đến là xơ sợi, dệt, tăng 9,34%, đạt 35,4 triệu USD…

Thống kê sơ bộ của TCHQ về tình hình xuất khẩu sang Ai Cập năm 2016

                                                                             ĐVT: USD

Năm 2016

So với năm 2015 (%)

Tổng

293.389.316

-18,93

hàng thủy sản

45.822.118

-28,63

hạt tiêu

42.624.022

17,57

xơ, sợi dệt các loại

35.445.597

9,34

máy móc, tbi, dụng cụ phụ tùng

23.205.809

10,18

cà phê

20.352.073

46,84

phương tiện vận tải và phụ tùng

8.992.050

-26,23

hàng dệt, may

4.360.897

-9,21

sắt thép các loại

187.229

-85,32

Để tăng cường xuất khẩu sang thị trường Ai Cập, Bộ Công Thương khuyến cáo các doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường này.

Theo cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương,  các nước thành viên WTO hiện đang quan ngại về các rào cản thương mại không cần thiết cho thương mại quốc tế do các quy định về việc xuất khẩu sang thị trường Ai Cập.

Phiên họp thứ hai năm 2016 của Ủy ban về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Ủy ban TBT) của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO diễn ra từ ngày 14 - 16/6/2016. Tại Phiên họp này, các nước thành viên đã đưa ra các quan ngai thương mại về các biện pháp kỹ thuật của các nước Thành viên khác, trong đó có Nghị định số 43 của Ai Cập về hệ thống đăng ký các nhà sản xuất. Nghị định này được công bố trên Công báo của Ai Cập ngày 16/1/2016 và có hiệu lực từ ngày 16/3/2016.

Một vài thành viên WTO gồm: Úc, Ca-na-đa, Chi-lê, Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Nam Phi, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ... đã nêu quan ngại đối với Nghị định số 43 về việc thiếu thời gian chuyển tiếp để thực thi biện pháp (thông thường theo quy định của Hiệp định TBT là 6 tháng), quá trình đăng ký tạo gánh nặng và không rõ ràng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường Ai Cập.

Cụ thể, Nghị định số 43 của Ai Cập điều chỉnh đối với các sản phẩm nhập khẩu cho mục đích thương mại bao gồm 25 loại: thực phẩm, đồ dùng, nhà bếp, nhà tắm, thép, thiết bị điện gia dụng, đồ chơi, hàng dệt may... Các sảm phẩm chỉ được phép nhập khẩu vào Ai Cập trừ phi chúng được sản xuất bởi các nhà máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ các trung tâm phân phối của các nhà máy, công ty đã được đăng ký tại các cơ quan đăng ký của Tổ chức quản lý Xuất Nhập khẩu của Ai Cập. Các nước nêu quan ngại cho rằng các yêu cầu của hệ thống đăng ký này của Ai Cập gây gánh nặng và tạo ra các rào cản thương mại không cần thiết cho thương mại quốc tế do các quy định này không rõ ràng về thủ tục đăng ký, không đủ thời gian đóng góp ý kiến cho các nước Thành viên WTO...

Trước những khó khăn này, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Da Giày Việt Nam và VCCI cần phổ biến quy định tới các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Ai Cập; đánh giá những khó khăn của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của Nghị định này; phàn hồi thông tin cho Bộ Công Thương nếu doanh nghiệp có khó khăn trong quá trình xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Ai Cập.

Nguồn: VITIC/moit.gov.vn