Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 3/2019 đạt 22.780 triệu USD, cao hơn 380 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 124 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 86 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 82 triệu USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện cao hơn 79 triệu USD; sắt thép cao hơn 66 triệu USD; rau quả cao hơn 65 triệu USD; xăng dầu cao hơn 55 triệu USD; thủy sản cao hơn 54 triệu USD; hàng dệt may thấp hơn 166 triệu USD; giày dép thấp hơn 40 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng thấp hơn 38 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4/2019 ước tính đạt 19,9 tỷ USD, giảm 12,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,12 tỷ USD, giảm 4,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,78 tỷ USD, giảm 15,7%. Nhiều mặt hàng xuất khẩu trong tháng 4/2019 có kim ngạch giảm so với tháng trước, cụ thể: Điện thoại và linh kiện giảm 27,6%; dầu thô giảm 15,3%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 11,5%; thủy sản giảm 9,3%; hàng dệt may giảm 9,2%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 3,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4/2019 tăng 7,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 6,6%. Một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng: Gỗ và sản phẩm gỗ tăng 22,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 16,2%; điện thoại và linh kiện tăng 12%; giày dép tăng 11,4%; hàng dệt may tăng 7,1%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 78,76 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 23,33 tỷ USD, tăng 10,5%, chiếm 29,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 55,43 tỷ USD, tăng 4%, chiếm 70,4% (tỷ trọng giảm 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).
Trong 4 tháng có 16 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 81,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó một số mặt hàng có giá trị tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 9,6 tỷ USD, tăng 12,6%; hàng dệt may đạt 9,4 tỷ USD, tăng 9,8%; giày dép đạt 5,3 tỷ USD, tăng 13,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,3 tỷ USD, tăng 4,1%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,1 tỷ USD, tăng 17,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,9 tỷ USD, tăng 5,7%. Mặc dù điện thoại và linh kiện có giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt 16 tỷ USD, chiếm 20,4% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu nhưng giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước; thủy sản đạt 2,4 tỷ USD, giảm 1,3%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản 4 tháng năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước: Cà phê đạt 1,1 tỷ USD, giảm 22,6% (lượng giảm 13,5%); hạt điều đạt 884 triệu USD, giảm 16,9% (lượng tăng 5%); gạo đạt 866 triệu USD, giảm 21,7% (lượng giảm 7,9%); hạt tiêu đạt 270 triệu USD, giảm 12% (lượng tăng 18,6%). Riêng rau quả đạt 1,4 tỷ USD, tăng 5,5%; cao su đạt 564 triệu USD, tăng 15% (lượng tăng 26,1%).
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 17,8 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 104,9%; giày dép tăng 9,4%; hàng dệt may tăng 8,5%. Tiếp đến là thị trường EU đạt 13,7 tỷ USD, tăng 2,8%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 19,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,6%; giày dép tăng 7%. Trung Quốc đạt 10,4 tỷ USD, giảm 5,8%, trong đó hàng thủy sản giảm 31,5%; điện thoại và linh kiện giảm 62,3%. Thị trường ASEAN đạt 8,4 tỷ USD, tăng 7,3%, trong đó hàng dệt may tăng 36,7%; sắt thép tăng 9,7%. Hàn Quốc đạt 6,2 tỷ USD, tăng 7,3%, trong đó hàng dệt may tăng 10%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,4%; điện thoại và linh kiện tăng 7,1%. Nhật Bản đạt 6,1 tỷ USD, tăng 6,6%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 33,9%; giày dép tăng 27,6%; hàng dệt may tăng 6,9%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 3/2019 xuất siêu 1,6 tỷ USD; quý 1 xuất siêu 1,4 tỷ USD; tháng 4/2019 ước tính nhập siêu 700 triệu USD. Tính chung 4 tháng năm 2019 tiếp tục xuất siêu 711 triệu USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,7 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 9,46 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,17 tỷ USD.

 Nguồn: VITIC Tổng hợp/Tổng cục Thống kê