Dự kiến, đến hết năm 2016, XK cà phê đạt gần 3,5 tỷ USD, với khoảng 1,8 triệu tấn cà phê XK. Mục tiêu, đến năm 2020, tổng kim ngạch XK các sản phẩm cà phê đạt từ 3,8-4,2 tỷ USD/năm, đến năm 2030 đạt trên 4,5 tỷ USD/năm.

Cà phê Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Đức với 457,4 triệu USD trong 11 tháng đầu năm, chiếm 15,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt mức tăng trưởng 42,4% so với cùng kỳ năm ngoái; tiếp đến thị trường Hoa Kỳ đạt 394,2 triệu USD, chiếm 13%, tăng 49%; Italia đạt 224,3 triệu USD, tăng 22,5%; Tây Ban Nha 192,6 triệu USD, giảm 8,4%; Nhật Bản 183,5 triệu USD, tăng 16,8%.

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu cà phê trong 11 tháng đầu năm nay sang hầu hết các thị trường đều đạt mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, xuất khẩu cà phê tăng mạnh ở một số thị trường như: Mexico (+220%); Ai Cập (+59%); Nam Phi (+59%); Philippines (+83,5%), Trung Quốc (+50%), Angieri (+67,7%), Hoa Kỳ (+49%).

Điều đáng chú ý là lượng xuất khẩu các sản phẩm cà phê chế biến (cà phê rang xay, hòa tan…) ngày càng nhiều. Cụ thể, trong năm nay, XK cà phê chế biến có thể đạt khoảng 350 triệu USD. Nhiều sản phẩm cà phê chế biến của Việt Nam được bạn hàng và thị trường thế giới ưa chuộng như G7 của Trung Nguyên đã đáp ứng được yêu cầu của nhà bán lẻ Walmart và đang được bán trong hệ thống Walmart tại Chile, Brazil, Mexico và Trung Quốc. Vinacafe XK trên 2.000 tấn cà phê hòa tan/năm đến 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.

Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại tự do với EU, Liên minh kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc… cũng tạo cơ hội đẩy mạnh XK cà phê chế biến. Vì trước đây, các sản phẩm cà phê chế biến phải chịu mức thuế cao từ 15 - 20%, rất khó cạnh tranh được với các nước khác. Nhưng với những hiệp định thương mại tự do trên, cà phê chế biến của Việt Nam XK sang EU, Liên minh Kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc… chỉ còn phải chịu thuế từ 0 - 5%, vì vậy XK vào các thị trường đã ký FTA sẽ trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn.

Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam có từ 25% sản lượng cà phê nhân trở lên được chế biến thành các sản phẩm cà phê phục vụ trực tiếp cho tiêu dùng. Trong đó, sản lượng cà phê rang xay là 50.000 tấn/năm, cà phê hòa tan đạt 255.000 tấn/năm.

Tại thị trường trong nước, giá cà phê cuối năm 2016 cũng tăng mạnh, đạt 45.000 đồng/kg tại các tỉnh Tây Nguyên, tăng gần 12.000 đồng/kg so năm 2015. Tuy nhiên, mưa kéo dài đã ảnh hưởng đến việc thu hoạch cà phê tại Tây Nguyên, gây lo ngại về nguồn cung cho xuất khẩu trong ngắn hạn, cũng như chất lượng cà phê bị ảnh hưởng.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu cà phê 11 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Thị trường

11T/2016

11T/2015

+/-(%) 11T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

3.006.492.488

2.322.960.268

+29,43

Đức

457.382.848

321.094.868

+42,44

Hoa Kỳ

394.228.346

264.479.734

+49,06

Italia

224.304.025

183.045.038

+22,54

Tây Ban Nha

192.600.576

210.157.872

-8,35

Nhật Bản

183.525.981

157.170.518

+16,77

Bỉ

124.959.774

112.658.352

+10,92

Nga

107.872.895

92.875.276

+16,15

Philippines

103.921.250

56.632.242

+83,50

Algeria

103.337.008

61.627.546

+67,68

Trung Quốc

97.948.179

65.482.443

+49,58

Mexico

85.734.380

26.768.004

+220,29

Thái Lan

73.322.504

54.044.173

+35,67

Anh

72.332.487

58.358.089

+23,95

Ấn Độ

69.828.307

44.880.011

+55,59

Pháp

62.804.519

55.266.012

+13,64

Hàn Quốc

55.671.550

51.189.385

+8,76

Malaysia

52.173.738

36.273.209

+43,84

Indonesia

29.272.608

26.863.980

+8,97

Hà Lan

29.262.845

25.463.035

+14,92

Ba Lan

28.664.047

31.389.123

-8,68

Australia

27.919.085

24.648.021

+13,27

Bồ Đào Nha

20.566.429

20.954.778

-1,85

Ai Cập

19.417.060

12.235.649

+58,69

Israel

17.750.619

16.883.335

+5,14

Nam Phi

15.780.501

9.908.760

+59,26

Canada

12.362.788

10.773.823

+14,75

Hy Lạp

12.282.925

8.755.337

+40,29

Rumani

9.750.692

11.157.999

-12,61

Singapore

7.558.812

10.327.324

-26,81

Thụy Sĩ

6.849.341

4.434.499

+54,46

Đan Mạch

2.753.851

2.378.890

+15,76

Campuchia

1.427.382

1.234.561

+15,62

NewZealand

984.854

3.927.584

-74,92