Riêng tháng 9/2018 xuất khẩu 10.586 tấn, đạt kim ngạch 18,68 triệu USD, giảm 17,5% về lượng và giảm 13% về kim ngạch so với tháng 8/2018. So với tháng 9/2017 cũng giảm 13,5% về lượng và giảm 10,6% về kim ngạch.
Giá chè xuất khẩu bình quân trong tháng 9/2018 đạt 1.764,5 USD/tấn, tăng 5,4% so với tháng 8/2018 và cũng tăng 3,3% so với cùng tháng năm ngoái. Tính trung bình trong cả 9 tháng đầu năm giá đạt mức 1.654 USD/tấn, tăng 3,6% so với 9 tháng đầu năm ngoái.
Bốn thị trường xuất khẩu lớn đạt kim ngạch trên 10 triệu USD, đó là Pakistan, Đài Loan, Nga và Trung Quốc. Trong đó, thị trường Pakistan đứng đầu về tiêu thụ chè của Việt Nam, với 23.921 tấn, tương đương 52,74 triệu USD, chiếm 26,1% trong tổng khối lượng chè xuất khẩu của cả nước và chiếm 34,8% trong tổng kim ngạch, tăng 10,5% về lượng và tăng 14,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu sang thị trường này tăng nhẹ 3,4% so với cùng kỳ, đạt 2.204,7 USD/tấn.
Chè xuất sang thị trường Đài Loan (TQ) chiếm gần 15% trong tổng khối lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu chè của cả nước, đạt 13.715 tấn, tương đương 21,2 triệu USD, tăng 3,7% về lượng và tăng 1,2% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu sang thị trường này sụt giảm 2,4%, chỉ đạt 1.545,6 USD/tấn.
Thị trường Nga chiếm 12% trong tổng khối lượng và tổng kim ngạch, với 11.242 tấn, tương đương trên 17,01 triệu USD, giảm 14,1% về lượng nhưng giảm 7,7% về kim ngạch, nhưng giá tăng 7,8%, đạt 1.513,3 USD/tấn.
Xuất khẩu chè sang thị trường Trung Quốc tuy giảm 7% về lượng, nhưng giá và kim ngạch đều tăng. Cụ thể, xuất sang thị trường này 7.786 tấn, tương đương 11,53 triệu USD, tăng 11%, giá trung bình 1,481,4 USD/tấn, tăng 19,4%.
Trong 9 tháng đầu năm nay, có tới 2/3 số thị trường xuất khẩu tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, còn lại 1/3 số thị trường sụt giảm kim ngạch. Đáng chú ý nhất là thị trường Đức, với mức tăng rất mạnh 70% so với cùng kỳ, đạt 1,6 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tăng mạnh ở một số thị trường như: Philippines tăng 43,4%, đạt 1,18 triệu USD, Saudi Arabia tăng 35,3%, đạt 3,64 triệu USD và Malaysia tăng 19,7%, đạt 2,3 triệu USD.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu chè sụt giảm mạnh ở các thị trường sau: Ấn Độ giảm 70%, đạt 0,55 triệu USD; U.A.E giảm 54,8%, đạt 3,53 triệu USD; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 56%, đạt 0,48 triệu USD.

    Xuất khẩu chè 9 tháng đầu năm 2018

Thị trường

9T/2018

+/- so với cùng kỳ (%)*

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

91.549

151.417.522

-10,93

-7,74

Pakistan

23.921

52.739.157

10,54

14,24

Đài Loan (TQ)

13.715

21.198.456

3,67

1,15

Nga

11.242

17.012.186

-14,41

-7,71

Trung Quốc

7.786

11.534.084

-6,98

11,09

Indonesia

6.945

6.949.721

-4,54

8,61

Mỹ

4.766

5.493.852

1,32

2,56

Saudi Arabia

1.399

3.637.128

28

35,28

U.A.E

2.306

3.527.867

-55,37

-54,78

Malaysia

2.950

2.303.369

16,19

19,73

Đức

314

1.596.049

9,41

69,95

Ukraine

937

1.537.755

2,74

14,41

Ba Lan

796

1.213.552

-11,36

-19,08

Philippines

462

1.177.528

35,48

43,36

Ấn Độ

577

546.602

-63,15

-70,11

Thổ Nhĩ Kỳ

235

483.264

-52,04

-56,32

Kuwait

17

45.448

13,33

12,53

 (*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)