Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 6 xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt hơn 2,65 tỷ USD, giảm 9,1% so với tháng 5. Tính chung 6 tháng đạt  gần 16,95 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 20,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Các thị trường xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong 6 tháng đầu năm 2016 của Việt Nam: thị trường EU (28 nước) với kim ngạch gần 5,28 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 31,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước; Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất đạt hơn 2,22 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7%, chiếm 13,1%; Hoa Kỳ đạt gần 2,07 tỷ USD, tăng 59%, chiếm 12,2%; Hàn Quốc đạt hơn 1,33 tỷ USD, tăng mạnh 224%, chiếm 7,9%.

Tuy nhiên, đây là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường Ả-rập Xê-út, nhưng trong 6 tháng đầu năm nay xuất khẩu sang thị trường này đã giảm 32% so với cùng kỳ, chỉ đạt trên 62 triệu USD. Nguyên nhân là do Chính phủ Ả-rập Xê-út tiến hành rà soát lại tất cả các cửa hàng điện thoại di động và phụ kiện trên toàn quốc, liên quan đến việc truy cứu nguồn gốc xuất xứ mặt hàng điện thoại di động và phụ kiện. Bên cạnh đó, Chính phủ của nước này đã ban hành chính sách mới quy định 100% nhân sự làm việc trong lĩnh vực điện thoại di động phải là người Ả-rập Xê-út, với quy định chế tài về mức xử phạt rất nặng đối với các cơ sở vi phạm, thậm chí rút giấy phép hoạt động trong vòng 5 năm.

Mặc dù, trong 6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu nhóm hàng này đạt kim ngạch cao, nhưng đóng góp phần lớn là từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cụ thể là từ 4 tổ hợp sản xuất điện thoại của các doanh nghiệp đa quốc gia (Samsung có 2 tổ hợp, Microsoft có 1 tổ hợp, LG có 1 tổ hợp), cùng các nhà cung cấp linh kiện nước ngoài xây nhà máy sản xuất cung ứng cho các tổ hợp này.

Mặt khác, dù những tổ hợp, nhà máy sản xuất mặt hàng này ngày càng gia tăng tỷ lệ nội địa hóa linh kiện sản xuất ở Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn chi một khoản lớn ngoại tệ để nhập khẩu linh kiện và sản phẩm điện thoại.

Những năm gần đây, xuất khẩu điện thoại và linh kiện có tốc độ tăng cao. Nếu năm 2009 xuất khẩu mặt hàng này còn đứng thứ 9 (sau dệt may, giày dép, dầu thô, thuỷ sản, điện tử máy tính và linh kiện, gỗ và sản phẩm gỗ, gạo, cao su) thì năm 2010 đã vượt lên đứng thứ 4 (sau dệt may, dầu thô, giày dép). Năm 2011 và 2012, mặt hàng này vượt lên đứng thứ 2 chỉ sau dệt may. Đến năm 2013, xuất khẩu điện thoại và linh kiện đã vượt qua dệt may, đạt 21,5 tỷ USD, trong khi dệt may chỉ đạt hơn 20 tỷ USD. Từ đó cho đến thời điểm này, điện thoại và linh kiện vẫn giữ vị trí dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu điện thoại và linh kiện 6 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

 

Thị trường

6T/2016

6T/2015

+/- (%) 6T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

16.946.219.816

14.597.118.510

+16,09

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

2.222.852.588

2.207.142.718

+0,71

Hoa Kỳ

2.069.184.277

1.300.385.266

+59,12

Hàn Quốc

1.334.734.759

411.906.159

+224,04

Áo

958.350.861

831.103.480

+15,31

Anh

929.706.591

826.461.101

+12,49

Đức

859.189.099

898.727.908

-4,40

Hồng Kông

766.319.456

569.155.863

+34,64

Italia

659.966.227

556.170.451

+18,66

Hà Lan

518.023.895

388.932.269

+33,19

Pháp

459.725.848

518.643.642

-11,36

Thái Lan

397.793.647

289.749.170

+37,29

Trung quốc

389.623.545

208.657.237

+86,73

Mexico

354.314.661

261.569.033

+35,46

Nga

342.787.902

269.163.181

+27,35

Tây Ban Nha

324.591.868

363.030.226

-10,59

Thổ Nhĩ Kỳ

323.893.665

401.096.990

-19,25

Australia

305.219.852

327.786.287

-6,88

Nam Phi

286.863.597

280.497.047

+2,27

Indonesia

253.151.883

441.850.181

-42,71

Thuỵ Điển

249.930.607

296.138.773

-15,60

Braxin

202.129.885

310.824.749

-34,97

Malaysia

193.454.544

252.213.084

-23,30

Ấn Độ

168.888.465

368.125.467

-54,12

Nhật Bản

162.150.855

25.420.436

+537,88

Israel

156.256.338

143.886.482

+8,60

Singapore

139.770.052

156.231.169

-10,54

Philippines

128.439.648

88.190.297

+45,64

Đài Loan

109.895.360

60.614.288

+81,30

Colombia

83.402.836

66.676.095

+25,09

New Zealand

71.935.845

59.419.818

+21,06

Slovakia

67.187.898

29.948.019

+124,35

Bồ Đào Nha

64.618.824

63.304.084

+2,08

Ả Rập Xê Út

62.017.353

91.623.863

-32,31

Angieri

50.131.904

72.166.880

-30,53

Ucraina

49.770.323

31.817.222

+56,43

Hy Lạp

37.657.436

35.843.789

+5,06

Campuchia

402.154

71.716

+460,76