Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, lượng gạo xuất khẩu trong tháng 7/2017 tăng 13% về lượng và tăng 15% về trị giá so với tháng liền kề trước đó, đạt 657.753 tấn, tương đương 285,68 triệu USD.

Tính chung cả 8 tháng đầu năm 2017 lượng gạo xuất khẩu tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2016, ước đạt 4,1 triệu tấn và kim ngạch tăng 19,4%, đạt 1,81 tỷ USD.

Giá xuất khẩu trung bình trong 8 tháng đầu năm 2017 đạt 440,3 USD/tấn, (giảm trên 2% so với cùng kỳ năm 2016).

Gạo của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc, chiếm trên 38% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước. Cụ thể, lượng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc 8 tháng đầu năm 2017 đạt 1,56 triệu tấn, thu về 700,73 triệu USD (tăng mạnh 31,9% về lượng và tăng 30,3% về kim ngạch so với 8 tháng đầu năm 2016).

Philippines vẫn đứng thứ 2 về tiêu thụ gạo của Việt Nam, với lượng gạo xuất khẩu 421.769 tấn (chiếm 10,3%), kim ngạch đạt 167,25 triệu USD (chiếm 9,3%), đạt mức tăng 115% về lượng và tăng 100% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.  

Malaysia vẫn đứng thứ 3 thị trường, với 365.705 tấn, thu về 167,25 triệu USD (tăng mạnh 80,6% về lượng và tăng 61,7% về kim ngạch so với cùng kỳ).

Trong 8 tháng đầu năm nay nổi bật lên 2 thị trường là Senegal và I rắc với mức tăng trưởng vượt bậc cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, xuất khẩu gạo sang Senegal tăng gấp 208 lần về lượng và tăng gấp gần 105 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, mặc dù chỉ đạt 24.368 tấn, tương đương 7,94 triệu USD. 

Xuất khẩu gạo sang I rắc cũng tăng mạnh gấp 64 lần về lượng và tăng gấp gần 71 lần về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 68.023 tấn, tương đương 33,75 triệu USD. 

Bên cạnh đó, xuất khẩu gạo sang Algeria cũng tăng mạnh trên 273% cả về lượng và kim ngạch, đạt 29.311 tấn, tương đương 11,53 triệu USD.

Tuynhieen, xuất khẩu gạo sụt giảm mạnh ở một số thị trường như: Indonesia (giảm 96% cả về lượng và kim ngạch), Ba Lan (giảm 72% cả về lượng và kim ngạch), Thổ Nhĩ Kỳ (giảm trên 70% cả về lượng và kim ngạch).

Đáng chú ý, giá gạo xuất khẩu tăng từ tháng 6 đến nay, đã góp phần tiêu thụ lúa gạo hàng hóa với mức giá cao, có lợi cho người nông dân sản xuất lúa.

Thời điểm ngày 1/6, giá gạo 5% tấm là 370-380 USD/tấn và gạo 25% tấm là 340-350 USD/tấn. Có thời điểm trong tháng 7, giá gạo 5% tấm của Việt Nam đã đạt mức 405-415 USD/tấn và gạo 25% là 380-390 USD/tấn. Đến ngày 25/8, giá gạo 5% tấm xuất khẩu là 380-390 USD/tấn và và gạo 25% tấm là 360-370 USD/tấn, dù có giảm nhưng vẫn cao hơn thời điểm đầu tháng 6 từ 10-20 USD/tấn.

Cơ cấu gạo xuất khẩu tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực. Cụ thể, xuất khẩu giảm mạnh ở phân khúc gạo cấp trung bình và cấp thấp; tăng mạnh ở dòng gạo cao cấp, các loại gạo chất lượng cao, giá trị cao (gạo nếp, japonica, gạo lứt). Đây được coi là tín hiệu đáng mừng bởi theo Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có đề ra mục tiêu phấn đấu điều chỉnh giảm dần lượng gạo hàng hóa xuất khẩu nhưng giữ ổn định và tăng trị giá xuất khẩu gạo; chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu; tăng tỷ lệ gạo xuất khẩu trực tiếp và mang thương hiệu gạo Việt Nam.

Cơ cấu thị trường điều chỉnh phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu và xu thế diễn biến thị trường gạo thế giới.Cụ thể, phấn đấu vào năm 2030 lượng gạo xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn; tỷ trọng gạo trắng thường chỉ chiếm khoảng 25%, trong đó gạo phẩm cấp thấp và trung bình không vượt quá 10% tổng lượng gạo xuất khẩu; gạo thơm, gạo đặc sản, gạo japonica chiếm khoảng 40%, gạo nếp chiếm khoảng 25%; tăng dần tỷ trọng các sản phẩm gạo có giá trị gia tăng cao như gạo tăng cường vi chất dinh dưỡng, gạo đồ, gạo hữu cơ, bột gạo, sản phẩm chế biến từ gạo, cám gạo và một số phụ phẩm khác từ lúa gạo (khoảng trên 10%).

Xuất khẩu gạo 8 tháng đầu năm 2017

Thị trường

8T/2017

% so sánh 8T/2017 với cùng kỳ

 

Tấn

USD

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

4.105.537

1.807.525.754

+21,88

+19,38

Trung Quốc

1.560.768

700.732.767

+31,88

+30,25

Philippines

421.769

167.251.983

+115,26

+100,17

Malaysia

365.705

141.677.946

+80,64

+61,67

Gana

230.107

116.994.264

32,94

-29,67

Bangladesh

226.091

95.694.070

*

*

Bờ biển Ngà

198.104

87.210.574

+39,59

+28,22

Singapore

68.072

33.656.918

+20,72

+17,23

I rắc

68.023

33.746.485

+6263,24

+7042,42

Hồng Kông

37.012

18.909.051

-46,59

-45,41

Angieri

29.311

11.528.819

+273,67

+273,60

Tiểu vương QuốcẢRập thống nhất

29.269

15.160.899

+27,00

+26,50

Đài Loan

24.780

10.990.010

-4,25

-10,74

Senegal

24.368

7.944.336

+20727,35

+10375,82

Nga

20.853

8.047.266

+61,41

+56,80

Mỹ

16.097

8.654.564

-27,11

-28,90

Indonesia

15.350

5.390.813

-95,73

-96,22

Angola

13.629

5.166.284

-58,44

-59,96

Brunei

13.548

5.360.666

-18,37

-28,21

Australia

6.614

3.777.970

+5,87

+2,14

Ucraina

5.167

2.194.112

+79,72

+82,68

Nam Phi

5.127

2.247.575

-66,58

-63,59

Chi Lê

4.365

1.723.980

+21,59

+17,69

Hà Lan

2.933

1.316.179

-33,04

-36,00

Bỉ

2.587

1.067.507

+15,29

-1,53

Thổ Nhĩ Kỳ

828

416.421

-73,32

-69,80

Tây Ban Nha

764

340.976

-20,00

-17,83

Ba Lan

654

333.065

-72,36

-70,81

Pháp

212

197.463

-8,62

+17,18