Riêng tháng 4/2018 xuất khẩu 721.379 tấn gạo, trị giá 364,37 triệu USD, tăng 9,5% về lượng và tăng 7,7% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó.

Trung Quốc là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại gạo của Việt Nam chiếm 31,8% trong tổng lượng gạo xuất khẩu gạo của cả nước và chiếm 33,5% trong tổng kim ngạch, đạt 699.660 tấn, trị giá 370,84 triệu USD, giảm 14,2% về lượng và giảm 1,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Xuất khẩu gạo sang Indonesia chiếm 17,4% trong tổng lượng và chiếm 16,3% trong tổng kim ngạch, đạt 384.493 tấn, tương đương 180,73 triệu USD, tăng rất mạnh gấp 384 lần về lượng và tăng gấp 333 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái

Xuất khẩu sang Malaysia chiếm 10,8% trong tổng lượng và chiếm 9,5% trong tổng kim ngạch, đạt 238.671 tấn, tương đương 105,29 triệu USD, tăng 186,4% về lượng và tăng 211,3% về kim ngạch so với cùng kỳ.

Philippines đạt 183.792 tấn, tương đương 82,23 triệu USD, giảm 22,3% về lượng và giảm 8,8% về kim ngạch, chiếm 8,3% trong tổng lượng và chiếm 7,4% trong tổng kim ngạch.

Trong 4 tháng đầu năm nay, ngoài thị trường Indonesia có mức tăng đột biến, còn có một số thị trường cũng đạt mức tăng cao như: Bangladesh tăng gấp 91 lần về lượng và tăng gấp 61 lần về kim ngạch, Thổ Nhĩ Kỳ tăng gấp 13 lần về lượng và tăng gấp 17 lần về kim ngạch, Iraq tăng gấp 11 lần về lượng và tăng gấp 16 lần về kim ngạch, Malaysia tăng 186,4% về lượng và tăng 211,3% về kim ngạch, Pháp tăng 361% về lượng và tăng 209% về kim ngạch.

Ngược lại, xuất khẩu gạo sụt giảm mạnh so với cùng kỳ  ở một số thị trường như: Brunei giảm 96% cả về lượng và kim ngạch; Chi Lê giảm 95% về lượng và giảm 90% về kim ngạch; Senegal giảm 91% về lượng và giảm 89% về kim ngạch; Angola giảm 86% về lượng và giảm 83% về kim ngạch; Bỉ giảm 90% về lượng và giảm 83% về kim ngạch; Ucraina giảm 78% về lượng và giảm 70% về kim ngạch.

Xuất khẩu gạo 4 tháng đầu năm 2018

Thị trường

4 tháng đầu năm 2018

% tăng giảm so với cùng kỳ

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

2.203.474

1.107.189.165

23,8

39,68

Trung Quốc

699.660

370.841.665

-14,2

-1,41

Indonesia

384.493

180.727.228

38.349,30

33.204,38

Malaysia

238.671

105.291.474

186,43

211,26

Philippines

183.792

82.234.795

-22,32

-8,78

Iraq

90.000

52.260.000

1.050,45

1.508,95

Ghana

79.375

48.407.676

21,17

45,98

Bờ Biển Ngà

63.135

37.817.581

-15,71

10,78

Singapore

26.215

14.591.605

3,21

15,23

Hồng Kông

23.286

13.437.444

22,8

41,15

U.A.E

15.956

8.730.590

1,04

7,54

Mỹ

6.919

4.117.583

-24,47

-13,94

Algeria

7.050

3.044.750

-60,28

-56,28

Đài Loan

5.248

2.717.956

-39,41

-34,59

Thổ Nhĩ Kỳ

4.352

2.496.928

1.260,00

1.601,08

Nga

5.466

2.368.282

-50,44

-42,5

Australia

2.400

1.591.380

-24,24

-13,01

Bangladesh

3.994

1.566.728

8.977,27

6.064,58

Angola

1.486

684.028

-86,18

-83

Nam Phi

908

533.290

-66,32

-53,13

Hà Lan

880

468.354

-44,44

-34,67

Pháp

544

376.267

361,02

208,9

Ukraine

611

354.083

-78,52

-69,66

Tây Ban Nha

323

162.690

-30,84

-16,08

Brunei

323

139.352

-95,97

-95,56

Chile

138

108.458

-94,97

-89,85

Ba Lan

165

98.517

-73,04

-67,42

Bỉ

96

63.360

-90,27

-82,75

Senegal

47

33.493

-90,86

-88,8

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)