Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm nay xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,2 tỷ USD (tăng nhẹ 1,3% so với cùng kỳ). Dự báo, cả năm có thể đạt trên 7,4 tỷ USD.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ đạt kim ngạch cao nhất 1,27 tỷ USD, chiếm 39,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, tăng 5% so với cùng kỳ; tiếp đến thị trường Nhật Bản trên 479 triệu USD, chiếm 14,9%, tăng 1,8%; sang Trung Quốc 435,5 triệu USD, chiếm 13,5%, tăng 2,37%; sang Hàn Quốc 276,8triệu USD, chiếm 8,6%, tăng 17%; sang Anh đạt 156,8 triệu USD, tăng 10,96%.

Việt Nam là một trong ba quốc gia xuất khẩu các sản phẩm gỗ nhiều nhất vào thị trường Anh, do đó sẽ có những tác động nhất định từ Brexit. Theo Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO), sự mất giá của đồng bảng Anh sau sự kiện Brexit là một tác nhân đáng kể, cộng với sự mất giá của thị trường chứng khoán, đã làm sụt giảm khoảng 30% về giá trị cổ phiếu của ngành xây dựng nhà cửa tại Anh.

Theo Liên đoàn Thương mại Gỗ Anh (TFF), Brexit sẽ tác động trực tiếp đến ngành xây dựng nhà, làm tăng khoảng 10-12% chi phí. Điều này dẫn đến việc dừng thực hiện các dự án xây dựng trong tương lai, làm giảm sức mua đối với các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả các sản phẩm gỗ từ các nước nhiệt đới, không phải chỉ riêng ở Anh mà có thể ở cả các quốc gia khác trong EU. Đó có thể là những bất lợi mà DN gỗ xuất khẩu của Việt Nam cần cân nhắc khi có ý định xuất hàng sang Anh.

Anh sẽ lựa chọn phương án tiếp tục áp dụng EUTR đối với các sản phẩm gỗ nhiệt đới nhập khẩu. Tuy nhiên, việc Anh rời EU hoàn toàn không có ảnh hưởng đến kết quả đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) trong khuôn khổ Chương trình Thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT VPA) giữa Việt Nam và EU. Bởi trong giai đoạn 2 năm đàm phán giữa Anh và EU sẽ không có bất cứ thay đổi nào về các quy định và chính sách của Anh có liên quan đến thương mại hàng hóa, dịch vụ giữa Anh và các nước trong khối EU, cũng như giữa Anh và các nước khác như hiện nay.

Trong cuộc họp báo công bố kết quả đàm phán hồi tháng 4/2016 giữa Việt Nam và EU, hai bên đã cam kết thống nhất về lộ trình ký kết VPA dự kiến vào cuối năm 2016.

Như vậy khi đàm phán kết thúc, nếu Anh quyết định rời EU, nhưng vẫn muốn duy trì mối quan hệ thương mại với các nước trong khối như hiện nay, thì bắt buộc Anh phải áp dụng các quy định và chính sách về môi trường giống như các thành viên thuộc Khu vực Cộng đồng chung châu Âu, như hiện Na Uy đang áp dụng. Điều này có nghĩa rằng Anh sẽ lựa chọn phương án tiếp tục áp dụng Quy định Gỗ của châu Âu (EUTR) đối với các sản phẩm gỗ nhiệt đới nhập khẩu từ các quốc gia khác và việc duy trì chính sách cấm nhập khẩu các sản phẩm gỗ bất hợp pháp vào Anh sẽ không thay đổi.

Theo các chuyên gia, khả năng Anh hoàn toàn rời khỏi EU và không áp dụng EUTR là rất nhỏ. Còn nếu điều này xảy ra, những tiêu chuẩn khác áp dụng cho việc nhập khẩu các sản phẩm gỗ từ các nước nhiệt đới của Anh cũng sẽ không thay đổi trước năm 2018. TFF nhận định, Anh sẽ tiếp tục áp dụng EUTR, bởi đây là quy định dựa trên nguyên tắc giảm rủi ro hiệu quả đối với các sản phẩm gỗ nhiệt đới được nhập khẩu vào nước này.

Hơn thế từ trước đến nay trong EU, Anh luôn là nước có vai trò rất tích cực trong đàm phán FLEGT VPA với nhiều quốc gia, do vậy Anh sẽ không dễ dàng từ bỏ vai trò tích cực của mình. Bên cạnh đó, khung chính sách hiện nay của Anh (độc lập với EU) có liên quan đến mua sắm công đã có cơ chế chấp nhận gỗ có chứng chỉ FLEGT.

Trong bối cảnh nhiều điều chưa rõ ràng và chưa chắc chắn về việc Anh sẽ rời EU như thế nào, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Tổ chức Forest, khuyến nghị các DN xuất khẩu của Việt Nam cần cập nhật thông tin và có những giải pháp ứng phó với các kịch bản thị trường khác nhau. Bởi trong tương lai có thể sẽ có những thay đổi về thuế, biến động tỷ giá, thay đổi thủ tục và phí hải quan, cũng như các thay đổi quy định và các tiêu chuẩn hiện đang được EU áp dụng.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Thị trường

6T/2016

6T/2015

+/- (%) 6T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

3.214.599.263

3.173.829.397

+1,28

Hoa Kỳ

1.270.112.838

1.209.579.395

+5,00

Nhật Bản

479.050.702

470.392.334

+1,84

Trung Quốc

435.461.098

425.370.782

+2,37

Hàn Quốc

276.830.343

236.052.608

+17,27

Anh

159.769.527

143.984.170

+10,96

Australia

73.251.017

67.511.834

+8,50

Canada

61.396.457

74.197.875

-17,25

Đức

53.320.144

63.429.610

-15,94

Pháp

49.403.074

48.694.413

+1,46

Hà Lan

36.602.092

35.727.840

+2,45

Đài Loan

30.951.219

37.031.129

-16,42

Ấn Độ

27.085.858

45.902.355

-40,99

Hồng Kông

20.312.678

47.737.361

-57,45

Malaysia

18.540.991

27.051.873

-31,46

Bỉ

15.058.600

17.198.321

-12,44

Italia

14.192.093

15.192.702

-6,59

Ả Râp Xê Út

11.987.347

11.743.346

+2,08

Thụy Điển

11.732.120

13.179.276

-10,98

Tây Ban Nha

11.210.776

11.593.592

-3,30

New Zealand

10.361.823

10.147.684

+2,11

Thái Lan

9.645.288

10.312.140

-6,47

Tiểu VQ Arập TN

9.113.380

8.963.152

+1,68

Singapore

7.765.403

7.130.119

+8,91

Ba Lan

7.652.649

7.809.047

-2,00

Thổ Nhĩ Kỳ

7.593.659

7.203.867

+5,41

Đan Mạch

7.006.699

7.792.586

-10,09

Mexico

5.891.838

3.380.050

+74,31

Campuchia

5.713.779

978.906

+483,69

Cô Oét

3.475.884

4.175.635

-16,76

Nam Phi

2.911.948

5.840.982

-50,15

Hy Lạp

2.324.627

3.339.007

-30,38

Nauy

2.143.253

3.732.063

-42,57

Bồ Đào Nha

1.731.758

954.791

+81,38

Nga

1.652.121

2.209.352

-25,22

Phần Lan

993.700

1.779.012

-44,14

Áo

833.778

1.484.867

-43,85

Thụy Sỹ

672.001

730.398

-8,00

Séc

399.268

478.776

-16,61