Ba thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại hàng dệt may của Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc; trong đó xuất sang Hoa Kỳ đạt kim ngạch lớn nhất 5,42 tỷ USD, tăng 5,53% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 49,9% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; Nhật Bản đạt gần 1,28 tỷ USD, tăng 4,79%, chiếm 11,8%; thị trường Hàn Quốc đạt 875,68 triệu USD, tăng 15,69%, chiếm 8,1%.

Trong khi đó, ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy trong 6 tháng đầu năm đạt gần 2,53 tỷ USD, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khối doanh nghiệp có vốn FDI nhập khẩu đạt gần 1,82 tỷ USD, chiếm 72% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước. Các thị trường lớn cung cấp nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày cho Việt Nam trong 6 tháng đầu năm gồm: Trung Quốc đạt 920 triệu USD, chiếm 36,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước; đứng thứ 2 là Hàn Quốc đạt 392 triệu USD, chiếm 15,5%; Đài Loan đạt 237 triệu USD, chiếm 9,4%.

Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho rằng, xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm nay có mức tăng trưởng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Có 3 nguyên nhân chính làm kéo giảm mức tăng trưởng của dệt may. Nguyên nhân chủ yếu là do chính sách ổn định tỉ giá (không theo cơ chế thị trường) của đồng Việt Nam so với USD, đã làm hàng hóa Việt Nam trở nên đắt hơn từ 10-16% và mất khả năng cạnh tranh với các nước. Ngoài ra, việc tăng lương tối thiểu làm tăng chi phí đầu vào, cùng với việc lãi suất ngân hàng cao làm tăng chi phí sử dụng vốn.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho rằng, trong khi một số nước có sản phẩm dệt may xuất khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng Việt Nam chưa có hiệp định thương mại với họ nên khi Thổ Nhĩ Kỳ áp thuế phòng vệ thương mại với sản phẩm sợi thì ta coi như mất luôn thị trường này, mặc dù đây là thị trường lớn. Việc nước Anh rời EU cũng tác động ngay lập tức tới Việt Nam, các doanh nghiệp có đơn hàng với Anh bị hạ giá và hủy hợp đồng rất nhiều, một số nhà đầu tư của Anh có ý định bán nhà máy tại Việt Nam.

Từ những khó khăn nêu trên, Hiệp hội Dệt May Việt Nam dự báo, dù rất nỗ lực nhưng kim ngạch xuất khẩu dệt may trong năm nay cũng chỉ có khả năng đạt khoảng 29 tỷ USD thay vì 30 tỷ USD như mục tiêu đã đề ra.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu hàng dệt may 6 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Thị trường

6T/2016

6T/2015

+/- (%) 6T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

10.847.164.768

10.258.945.529

+5,73

Hoa Kỳ

5.417.550.627

5.133.783.762

+5,53

Nhật Bản

1.277.219.561

1.218.831.945

+4,79

Hàn Quốc

875.679.883

756.939.888

+15,69

Đức

341.205.223

311.569.080

+9,51

Anh

333.519.505

323.254.122

+3,18

Trung Quốc

324.499.536

259.530.682

+25,03

Hà Lan

252.974.100

227.429.903

+11,23

Canada

245.255.831

270.014.239

-9,17

Tây Ban Nha

204.457.251

238.980.480

-14,45

Pháp

173.365.114

124.011.740

+39,80

Đài Loan

116.854.101

104.636.070

+11,68

Campuchia

105.769.266

99.358.765

+6,45

Hồng Kông

104.810.411

104.294.819

+0,49

Bỉ

96.211.962

87.513.164

+9,94

Italia

94.591.454

103.045.402

-8,20

Australia

79.519.804

67.656.536

+17,53

Tiểu VQ Arập TN

55.880.682

64.196.372

-12,95

Indonesia

53.047.923

64.939.818

-18,31

Mexico

45.153.978

43.901.150

+2,85

Nga

43.875.373

37.328.541

+17,54

Malaysia

43.856.597

32.953.131

+33,09

Philippin

39.724.991

26.548.942

+49,63

Thái Lan

38.537.987

23.789.280

+62,00

Đan Mạch

34.171.603

36.067.774

-5,26

Chi Lê

32.661.465

53.312.631

-38,74

Singapore

31.290.820

31.336.736

-0,15

Thụy Điển

29.886.873

32.852.611

-9,03

Ả Râp Xê Út

26.099.112

29.034.984

-10,11

Bangladesh

22.399.393

16.911.041

+32,45

Braxin

20.416.951

36.322.981

-43,79

Ba Lan

20.094.508

19.964.019

+0,65

Áo

15.040.670

5.267.077

+185,56

Thổ Nhĩ Kỳ

15.035.946

19.886.603

-24,39

Ấn Độ

13.286.085

7.045.792

+88,57

Nauy

13.240.546

12.887.411

+2,74

Panama

10.705.489

13.683.114

-21,76

Achentina

10.527.305

12.205.494

-13,75

Nam Phi

10.217.104

9.972.284

+2,46

Israel

7.584.054

6.776.854

+11,91

New Zealand

7.027.779

7.802.767

-9,93

Thụy Sỹ

5.438.339

4.186.427

+29,90

Myanma

4.783.125

5.828.375

-17,93

Senegal

4.742.928

4.719.312

+0,50

Gana

4.610.703

22.962

+19979,71

Phần Lan

4.134.915

4.949.388

-16,46

Hy Lạp

4.120.684

3.695.654

+11,50

Nigieria

3.519.393

4.539.544

-22,47

Lào

3.269.269

3.803.259

-14,04

Séc

2.956.969

3.923.304

-24,63

Ai cập

2.617.591

2.095.774

+24,90

Ucraina

2.348.410

2.313.791

+1,50

Angola

1.503.422

3.126.771

-51,92

Slovakia

1.098.774

1.503.356

-26,91

Hungary

267.793

1.166.539

-77,04

Bờ biển Ngà

168.959

412.489

-59,04