Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, 11 tháng đầu năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 2 chiều đạt 97,25 tỷ USD, tăng 16,07% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu đạt 37,66 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu 59,59 tỷ USD, tăng 12,7%; nhâp siêu 21,9 tỷ USD, tăng 0,1%.

Những năm gần đây, nhờ tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ nên khoảng cách nhập siêu của nước ta với đối tác thương mại lớn nhất này đã và đang giảm đáng kể, từ con số thâm hụt thương mại hơn 28 tỷ USD năm 2016 xuống còn 22,765 tỷ USD trong năm 2017.

Trong 11 tháng đầu năm nay, có 10 nhóm hàng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt kim ngạch trên tỷ USD; trong đó nhóm hàng điện thoại và máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện dẫn đầu về kim ngạch với 8,4 tỷ USD, chiếm 22,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang thị trường này.

Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đứng thứ 2 về kim ngạch, với 7,66 tỷ USD, chiếm 20,3%, tăng 24% so với cùng kỳ.

Đứng sau 2 nhóm hàng tỷ USD trên, là một số nhóm hàng cũng đạt kim ngạch cao như: rau quả đạt 2,58 tỷ USD, chiếm 6,9%, tăng 7,4%; máy ảnh, máy quay phim 2,53 tỷ USD, chiếm trên 6,7%, tăng 43,4%; xơ sợi dệt đạt 2,02 tỷ USD, chiếm trên 5,4%, tăng 8,7%; dệt may 1,39 tỷ USD, tăng 41%.

Xét về mức tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc 11 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2017, thì thấy có 69% các nhóm hàng tăng kim ngạch, còn lại 31% nhóm hàng sụt giảm. Nhóm hàng xi măng, clinker nổi bật lêm với mức tăng đột biến gấp 25 lần so với cùng kỳ, đạt 321,63 triệu USD, riêng tháng 11/2018 xuất khẩu tăng mạnh 456% so với tháng 11/2017; bên cạnh đó còn rất nhiều nhóm hàng tăng mạnh trên 100% kim ngạch như: Nguyên liệu nhưa tăng 189,6%, đạt 433,26 triệu USD; hóa chất tăng 142,5%, đạt 456,65 triệu USD; giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 110%, đạt 222,1 triệu USD; sản phẩm gốm, sứ tăng 106%, đạt 15,15 triệu USD.

Ngược lại, xuất khẩu một số nhóm hàng sụt giảm mạnh so với cùng kỳ như: Than giảm 58,5%, đạt 0,47 triệu USD; thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh giảm 46,5%, đạt 33,46 triệu USD; dầu thô giảm 33,8%, đạt 609,71 triệu USD; gạo giảm 31%, đạt 670,28 triệu USD.

Để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc, tham tán thương mại Việt Nam tại Trung Quốc cho rằng, với những điểm tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán cũng như vị trí địa lý thuận lợi, Trung Quốc vẫn luôn là một trong những thị trường thương mại lớn nhất và giàu tiềm năng của Việt Nam.

Khi giao dịch, kinh doanh tại thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp cần đăng ký thương hiệu sản phẩm với cơ quan chức năng của Trung Quốc; thông qua hệ thống các Thương vụ, Chi nhánh thương vụ và Văn phòng Xúc tiến thương mại của Bộ Công Thương đặt tại Trung Quốc, cũng như các cơ quan Thương vụ của Trung Quốc đặt tại Việt Nam để tìm kiếm các đối tác phù hợp và có uy tín tại Trung Quốc; Cần xác minh thực lực và uy tín của doanh nghiệp Trung Quốc nhất là các đối tác được tìm kiếm qua hình thức internet. Đồng thời cần cập nhật các thông tin thị trường, chính sách xuất nhập khẩu, các quy định về chất lượng sản phẩm và thị hiếu tiêu dùng của các địa phương của Trung Quốc; tăng cường tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường do các cơ quan, tổ chức và Hiệp hội tổ chức.

Xuất khẩu sang Trung Quốc 11 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Nhóm hàng

T11/2018

+/- so với T10/2018(%)*

11T/2018

+/- so với cùng kỳ năm trước(%)*

Tổng kim ngạch XK

4.201.320.984

-10,16

37.663.401.658

21,71

Điện thoại các loại và linh kiện

1.186.422.187

-17,61

8.402.606.727

53,5

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

769.283.266

-13,58

7.659.033.436

23,97

Hàng rau quả

177.647.786

-15,31

2.583.089.419

7,43

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

356.010.712

-6,86

2.534.453.066

43,42

Xơ, sợi dệt các loại

196.723.928

5,55

2.015.157.326

8,73

Hàng dệt, may

161.191.464

5,74

1.388.695.020

40,97

Giày dép các loại

155.853.794

10,6

1.352.674.197

30,21

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

126.214.612

-5,55

1.348.692.458

-6,46

Cao su

160.104.303

-4,94

1.228.298.532

-4,57

Gỗ và sản phẩm gỗ

87.834.352

-16,46

1.000.208.294

3,7

Hàng thủy sản

90.690.794

-16,52

910.431.944

-9,76

Sắn và các sản phẩm từ sắn

91.272.189

18,42

772.844.440

-4,06

Gạo

34.538.911

-37,88

670.279.117

-31,09

Dầu thô

59.480.043

-17,58

609.710.370

-33,79

Dây điện và dây cáp điện

50.841.331

-17,39

581.636.562

29,73

Hóa chất

72.509.422

-7,65

456.646.934

142,52

Chất dẻo nguyên liệu

32.799.487

-35,49

433.257.419

189,55

Hạt điều

65.301.461

20,04

392.646.939

-5,3

Clinker và xi măng

44.530.488

6,11

321.628.637

2,395,27

Xăng dầu các loại

42.570.362

233,36

298.912.479

42,05

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

21.482.698

-25,27

270.920.529

2,22

Phương tiện vận tải và phụ tùng

23.250.563

0,02

247.439.293

8,2

Giấy và các sản phẩm từ giấy

11.965.423

-5,4

222.099.039

110,1

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

11.567.657

-37,71

202.193.802

11,8

Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù

16.943.103

18,63

149.095.997

10,2

Kim loại thường khác và sản phẩm

18.157.233

12,27

132.330.339

41,27

Sản phẩm hóa chất

14.659.265

-6,93

128.526.300

33,08

Sản phẩm từ chất dẻo

8.663.841

-7

99.770.152

78,3

Cà phê

9.405.761

-13,18

98.272.558

31,37

Sản phẩm từ cao su

7.922.375

-0,99

81.750.119

18,79

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

8.190.646

4,77

71.230.107

-1,72

Quặng và khoáng sản khác

5.796.329

37

69.825.536

-14,15

Sản phẩm từ sắt thép

5.013.757

-14,83

56.259.008

12,81

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

3.877.232

25,88

37.472.505

23,18

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

5.359.285

277,09

33.460.536

-46,5

Chè

3.226.076

-2,22

17.529.743

27,79

Sản phẩm gốm, sứ

1.834.444

-26

15.152.799

106,12

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

1.510.459

12,87

12.457.255

3,55

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

974.096

-13,96

11.022.864

47,58

Vải mành, vải kỹ thuật khác

843.919

-37,91

10.957.585

-7,35

Sắt thép các loại

302.348

-62,77

8.796.383

-18,49

Than các loại

278.349

517,41

473.082

-58,54

 (*Tính toán từ số liệu của TCHQ)