Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 11/2018 lượng xuất khẩu hạt điều tăng nhẹ 4,7% so với tháng 10/2018 nhưng giảm 1,8% về kim ngạch, đạt 35.122 tấn hạt điều, trị giá 278,72 triệu USD.

Giá hạt điều xuất khẩu trong tháng 11/2018 cũng sụt giảm 6,2% so với giá xuất khẩu tháng 10/2018, đạt 7.935,7 USD/tấn.

Tính trung bình trong cả 11 tháng đầu năm 2018, cả nước xuất khẩu 339.708 tấn hạt điều, thu về 3,09 tỷ USD, tăng 4,9% về lượng nhưng giảm 3,8% về kim ngạch so với 11 tháng đầu năm ngoái; giá xuất khẩu hạt điều đạt trung bình 9.105 USD/tấn, giảm 8,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Hạt điều của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ nhiều nhất, chiếm gần 37% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều của cả nước, với 123.565 tấn, tương đương 1,14 tỷ USD, tăng 10,9% về lượng và tăng 1,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017.

Thứ 2 là thị trường Trung Quốc chiếm 13% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 44.810 tấn, trị giá 392,65 triệu USD, tăng 5,,3% về lượng nhưng giảm 5,3% về kim ngạch.

Tiếp đến thị trường Hà Lan chiếm 12% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 39.586 tấn, trị giá 377,48  triệu USD, giảm 19,3% về lượng và giảm 24,5% về kim ngạch. Hạt điều xuất khẩu sang thị trường Anh chiếm 4% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 13.584 tấn, tương đương 119,29 triệu USD, giảm 8,4% về lượng và giảm 15,7% về kim ngạch so với cùng kỳ.

Hạt điều xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á chỉ chiếm 3% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều của cả nước, đạt 9.633 tấn, tương đương 86,78 triệu USD, giảm 1,5% về lượng và giảm 10,2% về kim ngạch so với cùng kỳ.

Trong 11 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hạt điều tăng mạnh ở các thị trường sau: Ukraine tăng mạnh nhất 96,3% về lượng và tăng 78,5% về kim ngạch (đạt 687 tấn, tương đương 5,96 triệu USD); Hy Lạp tăng 72,4% về lượng và tăng 48,7% về kim ngạch (đạt 779 tấn, tương đương 6,94 triệu USD); Philippines tăng 36,3% về lượng và tăng 44% về kim ngạch (đạt 1.450 tấn, tương đương 12,46 triệu USD); Italia tăng 36,4% về lượng và tăng 30,9% về kim ngạch (đạt 6.913 tấn, tương đương 49,63 triệu USD). Tuy nhiên, xuất khẩu sang Pakistan lại sụt giảm rất mạnh 84,2% về lượng và giảm 87% về kim ngạch, đạt 56 tấn, tương đương 0,48 triệu USD.

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), tính đến tuần kết thúc ngày 8/11/2018, giá điều nhân tiếp tục sụt giảm và có sự khác biệt lớn giữa hai khu vực thị trường chính là Âu - Mỹ và Trung Quốc. Giá điều W320 được giao dịch ở 3,5 - 3,6 USD/pound cho thời gian giao hàng (ETD) tháng 3, 4, 5, 6/ 2019. Một số ít giao dịch cho thời gian giao hàng nhanh có giá 3,65 - 3,7 USD/pound.

Giá điều W320 giao ngay cho Trung Quốc mức 8,8 -9,3 USD/kg tùy nhà cung cấp. Giá điều rang muối còn vỏ lụa 8,8 - 9 USD/kg.

Hoạt động mua điều thô trong nước cũng trầm lắng do giá điều nhân sụt giảm khiến các nhà máy không còn động lực mua nguyên liệu đầu vào sản xuất, trừ một số nhà máy thiếu nguyên liệu và có nhu cầu, và do đã kí được hợp đồng xuất nhân lúc giá nhân lên cao vào tháng 11. Giá đang chào bán vẫn ở mức 1.400 - 1.500 USD/tấn.

Chỉ còn khoảng 1 tháng nữa là gần như 100% nhà máy sẽ vào dịp nghỉ Tết Nguyên Đán. Với thực tế nhiều lò tách vỏ điều thô đã nghỉ sản xuất, nhu cầu nguyên liệu không còn cao. Vinacas cho rằng khó có biến động đột phá đi lên của giá điều thô trong nước từ nay cho đến sau tết Âm lịch, cũng như thời gian tiếp theo của vụ thu hoạch 2019 tại Việt Nam, Campuchia.

Về điều nhân, Vinacas dự báo giá tiếp tục trầm lắng cho đến tháng 3 - 4/2019 khi các nhà rang chiên bất đầu hợp đồng mua hàng cho năm 2019.

Xuất khẩu hạt điều 11 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Thị trường

11T/2018

+/- so với cùng kỳ (%)*

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

339.708

3.093.073.675

4,9

-3,78

Mỹ

123.565

1.137.658.073

10,85

1,21

Trung Quốc

44.810

392.646.939

5,31

-5,3

Hà Lan

39.586

377.484.295

-19,32

-24,49

Anh

13.584

119.291.097

-8,38

-15,69

Canada

10.424

102.459.821

14,83

9,35

Australia

11.356

100.865.141

-7,55

-17,16

Đức

10.612

100.652.334

8,9

-0,18

Thái Lan

7.576

68.448.083

-4,26

-14,28

Nga

5.777

51.630.656

16,85

5,61

Israel

5.227

49.750.714

35,1

17,76

Italia

6.913

49.625.739

36,38

30,85

Pháp

3.985

41.474.411

22,58

15,7

Ấn Độ

4.390

32.213.163

-9,65

-19,92

Tây Ban Nha

3.400

31.542.786

31,94

15,79

Nhật Bản

3.171

29.269.201

20,85

16,22

Bỉ

2.847

28.013.099

15,83

6,28

New Zealand

2.600

23.168.318

-2,91

-10,82

U.A.E

2.763

20.923.433

-17,3

-23,67

Hồng Kông (TQ)

1.841

20.458.791

27,94

23,06

Đài Loan (TQ)

2.117

20.231.290

9,97

-1,43

Philippines

1.450

12.461.199

36,28

44

Na Uy

1.101

10.354.211

11,78

1,68

Nam Phi

834

7.946.142

7,06

5,16

Hy Lạp

779

6.941.638

72,35

48,68

Ukraine

687

5.962.059

96,29

78,48

Singapore

607

5.866.971

-24,22

-27,47

Pakistan

56

481.567

-84,23

-87,06

 (*Tính toán từ số liệu của TCHQ)