Cụ thể, theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 6/2019 giảm cả về lượng và trị giá so với tháng 5/2019, giảm lần lượt 18,4% và 18,6% tương ứng với 22 nghìn tấn; 70,5 triệu USD, trước đó xuất khẩu hạt tiêu tăng 1,9% về lượng nhưng giảm 0,7% trị giá.
Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 6/2019, đã xuất khẩu 176,8 nghìn tấn, trị giá 452,12 triệu USD, tăng 34,1% về lượng và trị giá giảm nhẹ 0,11% so với cùng kỳ 2018.
Giá xuất bình quân trong 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 2.550 USD/tấn, giảm 25,7% so với 6 tháng đầu năm 2018.
Hạt tiêu của Việt Nam đã có mặt trên 26 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ là thị trường xuất chính nhóm hàng này, chiếm 15,6% tổng lượng tiêu xuất khẩu của cả nước đạt 27,7 nghìn tấn, thu về 77,24 triệu USD, tăng 17,53% về lượng nhưng giảm 11,2% trị giá so với cùng kỳ; giá xuất bình quân giảm 24,45% chỉ còn 2788,36 USD/tấn. Tính riêng tháng 6/2019, cũng đã xuất sang Mỹ 3,9 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 10,74 triệu USD, giảm 24% về lượng và 20,89% về trị giá so với tháng 5/2019, giá xuất bình quân tăng 4,1% đạt 2745,65 USD/tấn; nếu so với tháng 6/2018 giảm 18,24% về lượng và giảm 32,4% trị giá, giá xuất bình quân giảm 17,32%.
Đứng thứ hai là thị trường Ấn Độ, mặc dù là quốc gia tiêu thụ tiêu lớn nhất trên thế giới, là nước sản xuất lớn thứ hai chỉ đứng sau Việt Nam, nhưng 6 tháng đầu năm 2019 Ấn Độ cũng phải nhập từ Việt Nam 13,81 nghìn tấn, chiếm 7,8% trị giá 33,91 triệu USD, tăng 18,6% về lượng nhưng giảm 13,67% trị giá, giá xuất bình quân giảm 27,21% tương ứng với 2454,56 USD/tấn. Riêng tháng 6/2019, xuất khẩu sang thị trường này cũng sụt giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 28,35% và 32,31% với trên 1,6 nghìn tấn, trị giá 3,68 triệu USD.
Kế đến là các thị trường Pakistan, UAE, Đức, Ai Cập, Hà Lan….
Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hạt tiêu sang các thị trường hầu hết đều tăng về lượng chiếm 69,2%, nhưng kim ngạch phần lớn suy giảm.
Đặc biệt, thời gian này Đức và Thổ Nhĩ Kỳ tăng mạnh nhập khẩu hạt tiêu từ Việt Nam, theo đó Thổ Nhĩ Kỳ có mức tăng nhiều nhất 53,37% đạt 2,4 nghìn tấn và Đức tăng 45,12% đạt trên 7 nghìn tấn. Ở chiều ngược lại, Singapore giảm mạnh, giảm 52,51% chỉ có 649 tấn.
Đáng chú ý, so với cùng thời gian này năm trước, thị trường xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam có thêm các thị trường mới như: Saudi Arabia đạt 2,18 nghìn tấn; Myanmar 2,15 nghìn tấn; Senegal đạt 1,89 nghìn tấn; Sri Lanka 150 tấn và Algeria 413 tấn.
Thị trường xuất khẩu hạt tiêu 6 tháng đầu năm 2019

Thị trường

6T/2019

+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Mỹ

27.703

77.246.007

17,53

-11,2

Ấn Độ

13.819

33.919.548

18,6

-13,67

Pakistan

7.672

18.644.846

11,84

-17,01

Đức

7.028

20.615.374

45,12

7,89

UAE

6.788

15.981.656

21,24

-8,19

Ai Cập

5.345

11.457.606

14,9

-11,7

Hà Lan

4.775

16.604.851

27,2

-2,18

Thái Lan

3.911

11.846.992

33,44

-6,65

Hàn Quốc

3.400

9.445.943

18,67

-9,44

Philippines

3.051

6.673.991

21,89

-4,08

Nga

2.851

6.363.922

29,3

-0,92

Anh

2.441

8.210.773

14,92

-14,66

Thổ Nhĩ Kỳ

2.414

5.323.221

53,37

15,61

Nam Phi

1.660

4.755.326

17,4

-17,24

Canada

1.618

4.794.528

11,89

-17,27

Nhật Bản

1.555

3.659.081

5

-51,12

Tây Ban Nha

1.326

3.930.592

-13,05

-27,43

Ba Lan

1.266

3.407.106

27,88

-3,62

Pháp

1.120

3.230.491

-4,6

-24,8

Australia

987

3.517.797

-13,04

-31,76

Ukraine

902

2.010.119

-13,85

-37,05

Malaysia

878

2.428.822

36,76

-3,74

Singapore

649

1.618.304

-52,52

-64,95

Italy

549

1.580.188

-4,36

-29,46

Co Oét

287

747.787

-28,61

-47,85

Bỉ

146

557.079

-35,11

-43,17

(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
 Nguồn: VITIC tổng hợp