Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 7/2018, xuất khẩu tiêu đạt 153,1 nghìn tấn, trị giá 518,4 triệu USD, tăng 4% về lượng nhưng giảm 35,9% trị giá so với cùng kỳ 2017.
Trong tháng 7, giá xuất khẩu hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng tại cảng Sài Gòn tiếp tục giảm, khiến giá xuất khẩu hạt tiêu bình quân 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3.379 USD/tấn, thấp hơn 51 USD/tấn so với giá bình quân xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2018 và giảm tới 61,5% so với cùng kỳ năm 2017.
Mỹ là thị trường nhập nhiều hạt tiêu từ thị trường Việt Nam, chiếm 17,8% tổng lượng tiêu xuất khẩu, đạt 27,2 nghìn tấn, trị giá 98,9 triệu USD, tăng 7,41% về lượng nhưng kim ngạch giảm 35,78% so với cùng kỳ.
Các nước EU đứng thứ hai về lượng tiêu nhập từ Việt Nam, chiếm 11,3% thị phần đạt 17,4 nghìn tấn, trị giá 69,8 triệu USD, tăng 5,92% về lượng nhưng giảm 36,35% trị giá. Kế đến là Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Pakistan, UAE là những nước có lượng tiêu nhập chiếm thị phần khá lớn, chiếm lần lượt 8,5%; 5,7%; 5%; 4,3%...
Nhìn chung, 7 tháng đầu năm nay 2018 lượng tiêu xuất sang các thị trường có tăng trưởng, nhưng kim ngạch lại sụt giảm hầu hết các thị trường bởi do giá xuất bình quân giảm mạnh.
Đáng chú ý, thời gian này xuất sang thị trường Singapo tăng mạnh vượt trội, gấp hơn 2,17 lần về lượng (tức tăng 117,07%) và trị giá tăng 21,81% tuy lượng xuất chỉ đạt 1,4 nghìn tấn 4,7 triệu USD. Kế đến là thị trường Ba Lan tăng 86,36% về lượng và 16,59% trị giá, tương ứng với 1,1 nghìn tấn; 3,9 triệu USD. Ở chiều ngược lại, xuất sang thị trường Bỉ giảm mạnh cả về lượng và trị giá, giảm tương ứng 40,04%; 67,03% chỉ với 274 tấn; 1,1 triệu USD.
Dự báo, tháng 8/2018 xuất khẩu hạt tiêu ước đạt 20 ngàn tấn, trị giá 58 triệu USD, đưa xuất khẩu hồ tiêu 8 tháng đầu năm 2018 ước đạt 173 ngàn tấn, với 577 triệu USD, tăng 13,07% về lượng và tăng 11,29% về giá trị so với cùng kỳ.
 Thị trường xuất khẩu hạt tiêu 7T/2018

Thị trường

7T/2018

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Hoa Kỳ

27.264

98.989.300

7,41

-35,78

Ấn Độ

13.027

43.167.119

39,68

-11,35

Pakistan

7.680

24.857.563

20,96

-28,63

UAE

6.612

20.041.071

-28,26

-56,44

Ai Cập

6.307

17.333.167

-4,27

-42,19

Đức

5.230

20.488.276

9,99

-34,37

Hà Lan

4.278

18.833.367

9,1

-29,2

Thái Lan

3.567

15.079.620

16,95

-27,21

Philippines

3.106

8.482.403

10,97

-28,79

Hàn Quốc

3.097

11.170.881

-18,8

-51,37

Anh

2.650

11.587.481

5,92

-35,87

Nga

2.630

7.599.163

-22,69

-55,47

Thổ Nhĩ Kỳ

1.956

5.610.486

-39,22

-60,73

Tây Ban Nha

1.821

6.364.985

-23,42

-52,35

Nam Phi

1.658

6.494.885

15,94

-28,41

Nhật Bản

1.655

8.241.302

26,24

-29,66

Canada

1.639

6.437.003

5,54

-32,88

Pháp

1.424

5.109.904

21,4

-33,11

Singapore

1.424

4.787.621

117,07

21,81

Australia

1.418

6.203.478

39,29

-6,79

Ukraine

1.295

3.889.188

61,67

0,95

Ba Lan

1.120

3.941.859

86,36

16,59

Malaysia

760

2.943.977

-14,32

-46,23

Italy

619

2.385.712

-5,5

-44,39

Kuwait

430

1.523.757

11,4

-30,97

Bỉ

274

1.167.541

-40,04

-67,03

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)