Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong quý 1/2018 xuất khẩu hạt tiêu của cả nước đạt 60.033 tấn, trị giá 221,66 triệu USD, tăng 17,4% về lượng nhưng  giảm 31,5% về kim ngạch so với quý 1/2017

Riêng tháng 3/2018 xuất khẩu tăng mạnh 132,5% về lượng và tăng 124,3% về kim ngạch so với tháng 2/2018 và cũng tăng 3,5% về lượng nhưng giảm 37,9% về kim ngạch so với tháng 3/2017, đạt 30.068 tấn, tương đương 106,18 triệu USD.

Giá xuất khẩu hạt tiêu trong tháng 3/2018 giảm 3,5% so với tháng trước đó và giảm 40% so với tháng 3/2017, đạt 3.531 USD/tấn. Giá trung bình trong cả quý 1/2018 cũng giảm mạnh 41,7% so với cùng kỳ, đạt 3.692 USD/tấn.

Hạt tiêu của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Mỹ, chiếm 17,2% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 19,3% trong tổng kim ngạch, đạt 10.364 tấn, trị giá 42,84 triệu USD (tăng 10,4% về lượng nhưng giảm 34,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017). Giá hạt tiêu xuất sang Mỹ giảm mạnh 40,9%, chỉ đạt 4.133 USD/tấn.

Xuất khẩu hạt tiêu sang Ấn Độ đạt mức tăng trưởng mạnh nhất trong số các thị trường, tăng tới 209% về lượng và tăng 77% về kim ngạch, đạt 7.132  tấn, trị giá 25,06 triệu USD, chiếm 11,9% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 11,3% trong tổng kim ngạch. Giá hạt tiêu xuất sang Ấn Độ giảm 42,8%, chỉ đạt 3.514 USD/tấn.

Trong quý 1 năm nay, Pakistan tiếp tục duy trì là thị trường lớn thứ 3 về tiêu thụ hạt tiêu của Việt Nam, chiếm 6,7% trong tổng lượng  hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 6,2% trong tổng kim ngạch, với 3.993 tấn, trị giá 13,69 triệu USD (tăng 37,7% về lượng nhưng giảm 23,5% về kim ngạch). Giá hạt tiêu xuất sang thị trường này giảm mạnh trên 44,2% so với cùng kỳ,  đạt 3.429 USD/tấn.

Xét về mức tăng trưởng xuất khẩu hạt tiêu trong quý 1 năm nay so với cùng kỳ năm ngoái, thì thấy hầu hết các thị trường đều sụt giảm kim ngạch, mặc dù lượng xuất khẩu sang một số thị trường vẫn đạt mức cao; Trong đó giảm mạnh ở các thị trường như: Bỉ giảm 65,4% về lượng và giảm 81% về kim ngạch; Nga giảm 36,7% về lượng và giảm 65% về kim ngạch; Pháp giảm 37,3% về lượng và giảm 62% về kim ngạch; Singapore giảm 15,4% về lượng và giảm 59% về kim ngạch; Ai Cập giảm 17,5% về lượng và giảm 54,4% về kim ngạch; Hàn Quốc giảm 17,5% về lượng và giảm 50% về kim ngạch.

Giá hạt tiêu xuất khẩu năm nay sụt giảm ở tất cả các thị trường. Trong số các thị trường xuất khẩu thì xuất sang Nhật đạt mức giá cao nhất 5.745 USD/tấn, giảm 41%; Xuất khẩu sang Ai Cập đạt mức thấp nhất 2.867 USD/tấn, giảm 44,7%.

Xuất khẩu hạt tiêu quý 1/2018

Thị trường

Quí 1/2018

 

% tăng giảm quí 1/2018 so với cùng kỳ

Lượng (Tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

60.033

221.656.752

17,39

-31,5

Mỹ

10.364

42.839.052

10,4

-34,72

Ấn Độ

7.132

25.060.491

209,28

76,94

Pakistan

3.993

13.692.178

37,69

-23,48

U.A.E

3.355

10.931.290

-13,37

-49,7

Đức

2.043

8.665.000

14,78

-35,13

Hà Lan

1.606

8.487.680

29,62

-18,08

Thái Lan

1.520

6.929.569

88,12

3,83

Ai Cập

1.734

4.972.024

-17,51

-54,4

Anh

983

4.959.868

-11,84

-47,96

Hàn Quốc

1.194

4.810.990

-17,48

-49,78

Nhật Bản

661

3.797.525

40,94

-17,1

Nam Phi

766

3.487.361

39,27

-20,27

Philippines

1.083

3.275.496

12

-27,39

Canada

695

3.137.197

19,62

-23,35

Australia

580

2.990.506

109,39

28,91

Tây Ban Nha

733

2.776.260

-13,76

-49,04

Nga

746

2.298.290

-36,67

-65,04

Thổ Nhĩ Kỳ

614

1.906.860

-15,08

-48,79

Ba Lan

331

1.367.514

84,92

13,83

Malaysia

322

1.342.409

9,15

-41,31

Ukraine

389

1.259.893

44,07

-16,22

Italia

279

1.170.569

10,71

-39,17

Pháp

222

1.121.428

-37,29

-62,14

Kuwait

295

1.075.477

56,08

-11,5

Singapore

236

770.040

-15,41

-59,01

Bỉ

70

370.705

-65,35

-81

 (Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)