Năm 2016, khối lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước tăng mạnh so với năm 2015, tăng 35,3% về khối lượng và 13,5% về giá trị (đạt 177.893 tấn, với kim ngạch 1,43 tỷ USD). Các thị trường có giá trị XK tăng mạnh là Pakistan (gấp 3,14 lần), Philippines (gấp 3 lần), Hoa Kỳ (31,3%), Ai Cập (23,2%), Tây Ban Nha (14%) và Ấn Độ (12%).

Sang tháng 1/2017, khối lượng tiêu XK ước đạt 8.315 tấn, với giá trị đạt 61,6 triệu USD (giảm 11,7% về khối lượng và 28,2% về giá trị so với tháng 1/2016).

Xuất khẩu trong tháng 1/2017 giảm là do xuất sang các thị trường lớn giảm như: xuất sang Hoa Kỳ - thị trường tiêu thụ nhiều nhất hạt tiêu Việt Nam giảm 28% về lượng và giảm 45% về trị giá (đạt 1.900 tấn, tương đương 14,6 triệu USD); xuất sang Ấn Độ cũng giảm 23% về lượng và giảm 39% về trị giá (đạt 614 tấn, tương đương 3,9 triệu USD).

Tuy nhiên, xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường Đức và Anh lạ tăng mạnh. Cụ thể, xuất sang Đức tăng 117% về lượng và tăng 48% về trị giá; xuất sang Anh tăng 45% về lượng và tăng 5% về trị giá.

Thị trường đáng chú ý nhất là thị trường Bỉ, trong tháng đầu năm nay, lượng hạt tiêu xuất khẩu tăng đột biến tới 560% cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm ngoái, mặc dù chỉ đạt 86 tấm, trị giá 888 triệu USD.     

Theo các chuyên gia, xuất khẩu hạt tiêu tháng đầu năm giảm do đây là thời điểm giáp Tết, đồng thời các nhà nhập khẩu đã tăng lượng đơn hàng vào dịp cuối năm 2016. Tuy nhiên, với vị thế là nước đứng đầu về XK hạt tiêu và chất lượng sản phẩm được đánh giá tốt nhất thế giới, nên kim ngạch XK mặt hàng này trong năm 2017 được dự báo sẽ tăng trưởng cao hơn năm trước.

Theo mục tiêu của Bộ Công Thương năm 2017, hạt tiêu nằm trong nhóm 13 mặt hàng XK có giá trị trên 1,5 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu dự kiến đạt 1,6 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2016.

Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết, niên vụ 2016-2017, dù sản lượng hồ tiêu ở một số địa phương giảm, do bệnh và ảnh hưởng của hạn hán nhưng tổng sản lượng hồ tiêu cả nước dự báo tăng ít nhất 15%. Trước đó, VPA cùng các doanh nghiệp đã có một số khảo sát nhằm đánh giá tình hình sản xuất hồ tiêu niên vụ 2016-2017 của một số tỉnh trồng hồ tiêu trọng điểm. Kết quả khảo sát cho thấy, so với năm 2015, diện tích tiêu trồng mới năm 2016 đã tăng khoảng 15-20%.

Giai đoạn 2010-2012, khi giá tiêu ngày càng tăng, nên các nơi đều đẩy mạnh tăng diện tích. Số diện tích này ước chừng 10- 20% tổng diện tích đang bắt đầu cho thu hoạch chính vụ 2016- 2017 trong tháng 2-4 tới với năng suất đạt khá cao, trung bình 5 tấn/ha.

Tuy nhiên, tại các huyện Bù Đốp (Bình Phước), Đắk R’lấp (Đắk Nông), Cư Kuin và Ea H’leo (Đắk Lắk) và Đắk Đoa, Chư Pưh (Gia Lai) cho thấy, những vườn tiêu trên 10 năm sắp thu hoạch sẽ giảm khoảng 30% so với vụ 2015-2016, đặc biệt, ở các huyện đã phát triển hồ tiêu lâu năm như Chư Sê, Chư Pưh (Gia Lai), Ea Ktur Cư Kuin (Đắk Lắk), năng suất giảm tới 60-70%, có nhiều vườn gần như không có trái. Nguyên nhân được cho là do đợt hạn đầu năm 2016, đa số vườn tiêu bị chết rễ không thể phục hồi dù năm nay sâu bệnh gây hại ít hơn năm trước và vẫn được chăm sóc rất kỹ. Tổng hợp diện tích mới bắt đầu cho khai thác và diện tích cũ năng suất giảm, ước sản lượng vụ mới 2016- 2017 sẽ tăng 15-20% so với sản lượng vụ 2015- 2016. Sản lượng hồ tiêu năm 2017 của cả nước ước đạt khoảng 180.000 tấn.

Theo VPA, vụ thu hoạch hồ tiêu 2016-2017 dự kiến sẽ muộn hơn so với năm trước do hạn đầu vụ, mưa muộn tháng 5-6 nên ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa đầu vụ. Cuối năm 2016, các tỉnh Tây Nguyên vẫn tiếp tục có mưa, ảnh hưởng đến việc thu hái nên dự kiến bắt đầu thu hoạch từ khoảng tháng 2/2017 và thu rộ trong tháng 3 năm nay.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu hạt tiêu tháng 1/2017

ĐVT: USD

Thị trường

T1/2017

T1/2016

+/-(%) T1/2017 so với T1/2016

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

8.315

61.632.262

9.414

85.852.279

-11,67

-28,21

Hoa Kỳ

1.900

14.621.785

2.647

26.466.283

-28,22

-44,75

Ấn Độ

614

3.931.007

797

6.425.328

-22,96

-38,82

Đức

495

3.864.594

228

2.606.409

+117,11

+48,27

Anh

354

3.112.492

244

2.967.259

+45,08

+4,89

Pakistan

309

2.187.822

522

4.192.448

-40,80

-47,82

Hà Lan

282

2.623.293

426

4.603.628

-33,80

-43,02

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

212

1.504.375

640

4.326.285

-66,88

-65,23

Nhật Bản

195

1.982.423

210

2.486.834

-7,14

-20,28

Nga

179

980.063

130

998.027

+37,69

-1,80

Hàn Quốc

170

1.402.882

237

2.243.993

-28,27

-37,48

Philippines

150

648.668

286

1.700.867

-47,55

-61,86

Ai Cập

145

939.588

454

3.158.067

-68,06

-70,25

Australia

135

1.214.625

90

1.130.518

+50,00

+7,44

Canada

126

932.798

112

1.135.400

+12,50

-17,84

Thái Lan

120

1.183.542

157

1.663.413

-23,57

-28,85

Thổ Nhĩ Kỳ

116

631.380

68

533.588

+70,59

+18,33

Nam Phi

92

812.723

143

1.703.217

-35,66

-52,28

Pháp

91

844.965

125

1.173.876

-27,20

-28,02

Bỉ

86

887.952

13

139.426

+561,54

+536,86

Tây Ban Nha

75

708.182

109

1.112.430

-31,19

-36,34

Italia

65

499.155

86

918.936

-24,42

-45,68

Singapore

49

421.744

38

352.675

+28,95

+19,58

Ucraina

40

270.325

29

143.934

+37,93

+87,81

Malaysia

35

286.967

51

530.478

-31,37

-45,90

Ba Lan

29

197.205

250

198.750

-88,40

-0,78

Cô Oét

16

126.100

14

121.200

+14,29

+4,04