Theo thống kê của TCHQ, kim loại xuất khẩu kim loại thường khác và sản phẩm của Việt Nam trong tháng 7/2018 giảm nhẹ 2,15% so với tháng 6/2018, nhưng nếu so với tháng 7/2017 tăng 39,35%. Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 7/2018 thu về trên 1,3 tỷ USD, tăng 37,07% so với cùng kỳ năm 2017.
Nhóm hàng kim loại và sản phẩm được xuất khẩu chủ yếu sang các thị trường Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á chiếm 71% tổng kim ngạch.
Trong số những thị trường chủ lực thì Ấn Độ chiếm tỷ trọng lớn nhất 25,8% đạt 352,9 triệu USD, tăng 38,8% so với cùng kỳ 2017. Tính riêng tháng 7/2018, kim ngạch xuất khẩu thị trường Ấn Độ giảm 16,03% so với tháng 6/2018 nhưng tăng 26,82% so với tháng 7/2017.
Chiếm tỷ trọng lớn đứng thứ hai là thị trường Mỹ chiếm 14,9%, đạt 203,7 triệu USD, tăng 39,88%, nếu tính riêng tháng 7/2018 thì kim ngạch giảm 12,87% so với tháng 6/2018, nhưng tăng 10,26% so với tháng 7/2017. Kế đến là các nước Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc lần lượt chiếm 13,1%; 9,7% và 7,3% và đều có tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ, tăng tương ứng 19,21%; 15,85% và 3,41%.
Đối với thị trường Trung Quốc lục địa, tuy có vị trí địa lý thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa, nhưng kim ngạcg chỉ đạt 79,2 triệu USD, tăng 42,89% so với cùng kỳ. Nhưng nếu tính riêng tháng 7/2018, thì xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 3,07% so với tháng 6/2018 và tăng 53,3% so với tháng 7/2017.
Đáng chú ý, xuất khẩu mặt hàng kim loại thường và sản phẩm trong 7 tháng đầu năm 2018, thay vì các thị trường truyền thống thì tăng mạnh xuất sang những thị trường mới nổi, tuy kim ngạch chỉ đạt ở mức thấp nhưng lại tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong đó xuất sang thị trường Đài Loan (TQ) tăng đột biến gấp 2,81 lần (tức tăng 181,05%) đạt 61 triệu USD; Hà Lan tăng gấp 2,64 lần (164,03%) đạt 3,6 triệu USD; Philippinnes tăng gấp 2,47 lần (147,59%) đạt 33 triệu USD và Anggola gấp 2,03 lần (103,15%) đạt 64,5 nghìn USD.
Nhìn chung, 7 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường đều tăng trưởng chiếm 79%. Ở chiều ngược lại, thị trường với kim ngạch suy giảm chỉ chiếm 21,7%, trong đó xuất sang Thụy Điển và Lào giảm mạnh nhất, giảm lần lượt 82,21%; 43,67% tương ứng với 127,2 nghìn USD và 1,5 triệu USD.

Thị trường xuất khẩu kim loại thường và sản phẩm 7 tháng năm 2018

Thị trường

T7/2018 (USD)

+/- so với tháng 6/2018 (%)*

7T/2018 (USD)

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*

Đức

990

26,55

8.013.891

32,59

Trung Quốc

12.587.654

3,07

79.253.946

42,89

Hồng Kông (TQ)

978

11,51

7.415.308

-54,69

Đài Loan

9.282.274

-5,70

61.060.193

181,05

Campuchia

7.424.331

14,64

43.375.987

36,83

Ấn Độ

43.654.086

-16,03

352.966.731

38,88

Philippines

8.341.762

76,49

32.037.099

147,59

Thái Lan

4.903.590

33,62

31.538.692

-18,59

Indonesia

6.520.786

71,58

30.726.469

13,81

Hà Lan

741

100,54

3.685.881

164,30

Canada

5.470.861

33,51

28.478.518

29,91

Australia

3.069.402

-20,17

21.772.332

-10,87

Hoa Kỳ

26.780.479

-12,87

203.765.954

39,88

Malaysia

3.628.083

52,29

20.287.121

24,55

Singapore

320

-26,31

2.630.487

-18,11

Anh

2.418.192

-23,50

19.775.128

21,15

Myanmar

1.100.181

-40,54

17.327.863

-3,06

Nhật Bản

20.882.923

11,84

133.685.839

15,85

Brazil

2.502.462

169,31

11.476.630

33,64

Hàn Quốc

16.040.032

3,59

100.228.601

3,41

Lào

348

133,97

1.592.304

-43,67

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)