Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các thị trường trong 6 tháng đầu năm 2017 đạt trị giá 1,67 tỷ USD, tăng mạnh 44,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Rau quả vẫn đang là một trong những mặt hàng nông sản có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất về giá trị xuất khẩu. Bởi phần lớn các mặt hàng nông sản chủ lực khác (trừ cao su), đều có mức tăng trưởng về giá trị xuất khẩu dưới 20%. Thậm chí một số mặt hàng giảm mạnh về giá trị xuất khẩu như tiêu, sắn. Và giá trị xuất khẩu rau quả trong 6 tháng đầu năm nay đã gần bằng tổng giá trị xuất khẩu của năm 2015 (1,84 triệu USD).

Trong số 23 thị trường chủ yếu xuất khẩu nhóm hàng rau quả của Việt Nam, thì Trung Quốc đứng đầu về kim ngạch, với 1,25 tỷ USD, chiếm tới 74,9% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả các loại của Việt Nam, tăng 55,4% so với 6 tháng đầu năm 2016.

Đứng sau thị trường chủ đạo Trung Quốc là các thị trường như: Nhật Bản đạt 56,54 triệu USD, tăng 60,8% ; Hoa Kỳ 53,6 triệu USD, tăng 26,4%; Hàn Quốc 49,8 triệu USD, tăng 11,5%: Hà Lan 31,11 triệu USD, tăng 11%:

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các thị trường các thị trường truyền thống vẫn tăng trưởng tốt so với 6 tháng đầu năm 2016; Tuy nhiên, có một số thị trường xuất khẩu tuy kim ngạch không lớn nhưng so với cùng kỳ lại tăng rất mạnh như: xuất sang thị trường Hồng Kông tăng 102%, đạt 9,9 triệu USD; xuất sang U.A.E tăng 81%, đạt 19,29 triệu USD; sang Lào tăng 78,6%, đạt 4,68 triệu USD; sang Nga tăng 54,6%, đạt 16,2 triệu USD.

Tuy nhiên xuất khẩu rau qủa sang Campuchia, Indonesia và Anh lại sụt giảm mạnh, với mức giảm tương ứng 81,8%,  53% và 42% về kim ngạch so với cùng kỳ.

Với đà tăng trưởng XK như trên, XK rau quả cả năm nay hoàn toàn có thể lần đầu tiên vượt mốc 3 tỷ USD. Nếu vậy, chỉ trong vòng 2 năm liên tiếp, rau quả lần lượt vượt qua 2 mốc giá trị XK quan trọng là 2 và 3 tỷ USD.

Các chuyên gia nhận định, có 3 cơ sở để tin tưởng vào việc XK rau quả cả năm nay hoàn toàn có thể vượt mốc 3 tỷ USD, đó là mùa vụ, chất lượng và nhu cầu thị trường. Trong tổng giá trị XK rau quả hiện nay, chiếm phần lớn là trái cây. Trong đó, trái thanh long tiếp tục là số 1 khi đang chiếm hơn 50% tổng giá trị XK trái cây. Tháng 7, tháng 8 lại là thời điểm vụ thuận của thanh long, với chất lượng trái tốt.

Về thị trường, thường những tháng cuối năm, nhìn chung các thị trường khó tính có nhu cầu NK trái cây nhiệt đới cao hơn so với 6 tháng đầu năm. Bởi NK trong 6 tháng cuối năm là để đáp ứng nhu cầu tăng cao trong các dịp lễ hội như Giáng sinh, đón năm mới … Mà trong 6 tháng đầu năm nay, XK trái cây đã tăng trưởng rất mạnh, qua đó giúp cho XK rau quả đạt tới gần 1,7 tỷ USD. Thì XK 6 tháng cuối năm, con số hơn 1,3 tỷ USD hoàn toàn trong tầm tay để cả năm vượt mốc 3 tỷ USD. Thậm chí, một số doanh nhân ngành rau quả cho rằng XK cả năm có thể vượt xa hơn so với mốc 3 tỷ USD.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm2017

ĐVT: USD

 

Thị trường

 

6T/2017

 

6T/2016

+/-(%) 6T/2017 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

1.668.690.444

1.155.964.663

+44,35

Trung Quốc

1.249.174.816

803.808.467

+55,41

Nhật Bản

56.538.366

35.152.202

+60,84

Hoa Kỳ

53.596.737

42.413.252

+26,37

Hàn Quốc

49.780.424

44.633.582

+11,53

Hà Lan

31.119.278

28.051.689

+10,94

Malaysia

24.204.401

25.180.905

-3,88

Thái Lan

22.224.174

21.086.646

+5,39

Đài Loan

20.868.471

17.614.387

+18,47

U.A.E

19.292.622

10.651.728

+81,12

Nga

16.197.281

10.475.866

+54,62

Singapore

13.938.091

13.924.661

+0,10

Australia

11.247.093

10.354.735

+8,62

Hồng Kông

9.893.836

4.903.884

+101,76

Canada

8.636.948

8.040.805

+7,41

Pháp

8.222.109

6.466.309

+27,15

Đức

5.881.076

5.585.359

+5,29

Lào

4.675.734

2.618.233

+78,58

Anh

3.289.973

5.674.366

-42,02

Indonesia

3.027.624

6.481.400

-53,29

Italia

1.738.122

2.031.483

-14,44

Cô Oét

935.713

1.105.973

-15,39

Ucraina

511.196

341.644

+49,63

Campuchia

282.862

1.555.331

-81,81