Xuất khẩu sang Hàn Quốc cũng tăng 26% so cùng kỳ, đạt 44,6 triệu USD, chiếm 3,9% tổng lượng xuất khẩu, đứng thứ hai sau thị trường Trung Quốc. Tiếp đến Hoa Kỳ, với 42,4 triệu USD, tăng 25,7% và chiếm 3,7% tổng lượng xuất khẩu.

Hà Lan mặc dù đứng thứ 5 về kim ngạch nhưng có tốc độ tăng khá mạnh 48,6%, đạt 28 triệu USD. Bên cạnh đó, thị trường Úc cũng khá tiềm năng khi xuất khẩu tăng gần 22% so cùng kỳ. Trong Top 10 thị trường lớn nhất tiêu thụ rau quả của Việt Nam, chỉ có Nhật Bản giảm nhẹ 4,7% về kim ngạch.

Các chuyên gia cho rằng, xuất khẩu rau quả năm 2016 có nhiều triển vọng hơn so với năm 2015, vì nhiều thị trường đã mở cửa với rau quả Việt Nam và nhiều thị trường đang tiếp tục được đàm phán và dự kiến sẽ mở cửa trong thời gian tới.

Trong tháng 6, lô hàng thanh long đầu tiên của Việt Nam đã được xuất khẩu trở lại vào thị trường Đài Loan sau 5 năm vắng bóng (Năm 2008, Đài Loan dừng nhập khẩu thanh long Việt Nam, với lý do có loài ruồi đục quả ổi ở Việt Nam có thể đi theo thanh long nhập khẩu vào nước bạn). Dự kiến xuất khẩu thanh long sang Đài Loan sẽ khó đạt được 14.000 - 16.000 tấn/năm như những năm trước, nhưng đây cũng là tín hiệu mừng đối với trái thanh long Việt.

Đối với thị trường Hoa Kỳ, sau thanh long, chôm chôm, vải và nhãn, thì trái vú sữa tươi là loại quả thứ 5 của Việt Nam sẽ chính thức được phép nhập khẩu vào thị trường này dự kiến từ quý IV năm nay. Dự kiến, xuất khẩu trái cây năm 2016 sẽ vượt con số 1,8 tỷ USD năm 2015.

Khi hội nhập sâu, đặc biệt là khi tham gia TPP, lộ trình thuế suất giảm dần cũng đồng nghĩa với việc các rào cản kỹ thuật như điều kiện kiểm dịch, an toàn thực phẩm sẽ tăng lên. Đây là một trong những khó khăn lớn nhất trong XK trái cây nói riêng, XK các mặt hàng nông sản nói chung. Hồ sơ một loại trái cây để được một quốc gia chấp nhận nhanh thì mất 1 năm, còn trung bình khoảng 3-4 năm, thậm chí lâu hơn có thể mất tới cả 10 năm.

Nhiều nước NK đang đưa ra yêu cầu với trái cây tươi của Việt Nam là phải đảm bảo không dịch bệnh, không có thuốc bảo vệ thực vật theo đúng quy định. Về vấn đề kiểm soát dịch bệnh, yêu cầu trước khi XK trái cây phải được xử lý bằng hơi nước hoặc chiếu xạ. Ngoài nỗ lực để mở cửa thị trường, vượt qua rào cản về mặt kỹ thuật, một số chuyên gia cho rằng, muốn XK trái cây tận dụng tốt cơ hội trong hội nhập sâu, điều quan trọng là cần thu hút được đông đảo DN tham gia sản xuất, XK. Hiện nay, số lượng DN XK trái cây tươi khá khiêm tốn. Một trong những lý do khiến DN chưa mặn mà là bởi rủi ro cao, các loại chi phí lớn.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về XK rau quả 6 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Thị trường

6T/2016

6T/2015

+/-(%) 6T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

1.155.964.663

880.932.238

+31,22

Trung Quốc

803.808.467

252.581.947

+218,24

Hàn Quốc

44.633.582

35.430.452

+25,98

Hoa Kỳ

42.413.252

27.249.594

+55,65

Nhật Bản

35.152.202

36.889.889

-4,71

Hà Lan

28.051.689

18.874.826

+48,62

Malaysia

25.180.905

18.918.633

+33,10

Thái Lan

21.086.646

17.289.193

+21,96

Đài Loan

17.614.387

16.521.423

+6,62

Singapore

13.924.661

12.599.056

+10,52

U.A.E

10.651.728

6.212.446

+71,46

Nga

10.475.866

13.322.394

-21,37

Australia

10.354.735

8.493.384

+21,92

Canada

8.040.805

8.759.845

-8,21

Indonesia

6.481.400

5.102.275

+27,03

Pháp

6.466.309

4.781.137

+35,25

Anh

5.674.366

3.190.959

+77,83

Đức

5.585.359

7.274.553

-23,22

Hồng Kông

4.903.884

11.725.675

-58,18

Lào

2.618.233

3.588.191

-27,03

Italia

2.031.483

1.402.826

+44,81

Campuchia

1.555.331

1.018.094

+52,77

Cô Oét

1.105.973

2.429.184

-54,47

Ucraina

341.644

436.773

-21,78