Tính chung cả 9 tháng đầu năm 2018 kim ngạch ước đạt 2,98 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 1,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước.
Rau quả của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc, chiếm 74% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của cả nước, đạt trên 2,2 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng tháng 9/2018 kim ngạch sụt giảm 22,4% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 0,9% so với tháng 9/2017, đạt 211,69 triệu USD.
Đông Nam Á là thị trường lớn thứ 2 nhập khẩu rau quả của Việt Nam đạt 107,41 triệu USD, chiếm 3,6% trong tổng kim ngạch, tăng 12,4%. Riêng tháng 9/2018 kim ngạch sụt giảm 15% so với tháng 8/2018 và giảm 21,7% so với tháng 9/2017, đạt 8,33 triệu USD. Tiếp theo là thị trường Mỹ 9 tháng đầu năm đạt 99,3 triệu USD, chiếm 3,3%, tăng 30,8%; Hàn Quốc đạt 85,16 triệu USD, chiếm 2,9%, tăng 24,2%; EU đạt 82,17 triệu USD, chiếm 2,8%, tăng 5,5%; Nhật Bản đạt 81,77 triệu USD, chiếm 2,7%, giảm 12,5%.
Xét về mức tăng trưởng xuất khẩu rau quả 9 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm ngoái thì thấy phần lớn các thị trường đều đạt mức tăng trưởng kim ngạch, trong đó đáng chú ý nhất là xuất khẩu sang Campuchia tăng rất mạnh 293%, mặc dù kim ngạch chỉ đạt 2,25 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang một số thị trường cũng đạt mức tăng tương đối tốt như: Kuwait tăng 57,8%, đạt 2,48 triệu USD; Pháp tăng 43%, đạt 17,27 triệu USD, Thái Lan tăng 35%, đạt 36,54 triệu USD, Canada tăng 32,5%, đạt 16,6 triệu USD, Australia tăng 31,6%, đạt 26,93 triệu USD và Mỹ tăng 30,8%, đạt 99,3 triệu USD.
Tại thị trường trong nước, giá trái cây tại vùng ĐBSCL tháng 9/2018 tăng mạnh, mít Thái giá 54.000 - 55.000 đ/kg, tăng khoảng 5.000 - 10.000 đ/kg so với tháng 8/2018. Giá sầu riêng tại Đắk Lắk tăng mạnh lên 68.000 - 70.000 đ/kg, trong khi năm ngoái khoảng 45.000 - 48.000 đ/kg, thời tiết thuận lợi khiến sầu riêng được mùa. Giá thanh long mua tại vườn Bình Thuận bất ngờ đạt mức 22.000 - 25.000 đ/kg, tùy chất lượng. Theo các thương lái, sở dĩ giá tăng đột biến do gần đến tết Trung thu nên thị trường Trung Quốc tiêu thụ mạnh.
Trong khi đó, giá bơ booth (bơ muộn) tại Tây Nguyên 25.000 - 30.000 đ/kg, trong khi mức giá của năm ngoái 40.000 - 50.000 đ/kg, do tình trạng mở rộng diện tích trồng bơ tự phát, thiếu tính bền vững cũng như loại quả này chưa phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước. Cũng trong tháng 9, thị trường rau củ tăng tại một số vùng phía Bắc trong đó có Hà Nội do tác động của bão gây mưa lớn làm sản lượng rau củ tại những khu vực trồng rau giảm đáng kể.
Nhìn lại 9 tháng đầu năm 2018, thị trường trái cây khá thuận lợi về giá và nguồn cung do điều kiện thời tiết thuận lợi đặc biệt với các loại quả như vải, nhãn, thanh long, bơ, sầu riêng…. Đối với rau củ, nhìn chung ổn định, ngoại trừ thời điểm ảnh hưởng bão. 

Xuất khẩu rau quả 9 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Thị trường

T9/2018

% tăng giảm so với T8/2018*

9T/2018

% tăng giảm so với cùng kỳ*

Tổng kim ngạch XK

288.408.054

-20,51

2.976.400.504

13,33

Trung Quốc

211.687.257

-22,42

2.203.549.206

10,36

Mỹ

13.009.186

1,56

99.295.550

30,78

Hàn Quốc

8.258.580

-9,22

85.164.455

24,16

Nhật Bản

7.460.603

-12,25

81.765.825

-12,45

Hà Lan

3.755.819

-34,31

45.139.589

-5,33

Malaysia

3.136.241

-33,47

39.599.458

6,22

Thái Lan

1.921.076

3,69

36.539.630

35,05

Đài Loan (TQ)

6.068.548

42,17

31.556.349

-6,81

U.A.E

2.522.896

-22,63

29.311.116

14,82

Australia

3.752.851

-37,49

26.929.871

31,61

Nga

1.834.735

-12,49

23.610.107

3,65

Singapore

2.085.353

-6,76

21.313.103

-0,16

Pháp

1.943.878

25,02

17.272.649

43,04

Canada

2.126.370

21,31

16.601.743

32,46

Hồng Kông (TQ)

2.026.494

13,86

15.573.614

4,51

Đức

1.176.923

-14,74

11.505.232

20,82

Lào

1.009.095

23,6

7.099.194

14,32

Anh

461.866

-13,37

4.549.620

-4,74

Italia

247.485

-58,12

3.702.234

-4,09

Kuwait

190.413

-81,94

2.475.633

57,78

Campuchia

88.731

29,72

2.246.634

292,96

Ukraine

175.635

93,2

823.286

-13,5

Indonesia

93.425

-19,94

613.438

-80,19

 (*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)