Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 5 tháng đầu năm, chiếm 52,81% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Các thị trường lớn có giá trị xuất khẩu tăng trưởng dương là Hoa Kỳ (9,73%), Trung Quốc (trên 49%), Thái Lan (8,6%) và Anh (trên 8,64%).

Trong đó, xuất khẩu tôm đạt 1,1 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ. Trong top 10 thị trường tiêu thụ chủ yếu tôm Việt Nam thì xuất khẩu sang Trung Quốc & Hồng Kông tăng mạnh nhất 34,3%; tiếp đó là Mỹ 17,4%. Ngược lại, xuất sang Đài Loan giảm mạnh nhất 31,6%; tiếp đến Thụy Sỹ và Canada lần lượt giảm 23% và 22,7%. Tôm chân trắng chiếm 57,8%, tôm sú 33,7% và tôm biển 8,5%. So với 5 tháng đầu năm 2015, tỷ trọng tôm chân trắng và tôm sú tăng nhẹ trong khi tỷ trọng tôm biển giảm. Trong tổng các sản phẩm tôm xuất khẩu tính theo mã HS, giá trị XK tôm sú chế biến tăng mạnh nhất với gần 32%; xuất khẩu tôm loại khác chế biến đóng hộp giảm mạnh nhất với gần 54%.

Mỹ tiếp tục dẫn đầu tiêu thụ tôm Việt Nam, chiếm 22,6% tổng kim ngạch XK tôm của Việt Nam. EU đứng thứ hai với 18,9%; tiếp đến Nhật Bản và Trung Quốc lần lượt chiếm 17% và 16,6%. Xuất khẩu tôm sang Trung Quốc đạt 182,3 triệu USD, sản lượng tôm của Trung Quốc ngày càng giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ tăng,  do đó Trung Quốc đang tăng cường nhập khẩu tôm từ Ecuador và một số nguồn cung lớn ở châu Á như Việt Nam.

Xuất khẩu cá tra 5 tháng đạt 650,3 triệu USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu sang Mỹ, Trung Quốc, Brazil tăng khả quan. Cụ thể, cá tra xuất sang Mỹ đạt 152 triệu USD, chiếm 23,4% tổng xuất khẩu, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2015, xuất sang EU giảm 8,1%, đạt 109,3 triệu USD; sang Trung Quốc đạt 94,9 triệu USD, tăng 72,7%; sang Brazil đạt 32,8 triệu USD, tăng 118,3%.

XK cá ngừ 5 tháng đầu năm chỉ đạt 179,9 triệu USD, giảm hơn 4% so với cùng kỳ. Cá ngừ Việt Nam được xuất sang 87 thị trường, ít hơn so với năm ngoái. Trong đó, Mỹ, EU, ASEAN và Trung Quốc hiện đang là 4 thị trường XK lớn nhất của Việt Nam. ASEAN, Trung Quốc vẫn là 2 thị trường duy nhất trong tốp 8 thị trường đứng đầu tăng NK cá ngừ của Việt Nam tại thời điểm này. Hiện tại, XK thăn/philê cá ngừ tăng, trong khi xk cá ngừ chế biến và cá ngừ tươi sống, đông lạnh và khô (trừ thăn/philê cá ngừ) giảm. Cụ thể, 5 tháng đầu năm nay, XK thăn/philê cá ngừ đạt gần 94 triệu USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ. XK cá ngừ chế biến đóng hộp và chế biến khác chỉ đạt gần 71,2 triệu USD, giảm 19,7% so cùng kỳ. XK cá ngừ tươi sống, đông lạnh và khô (trừ thăn/philê cá ngừ) cũng giảm 25,3%, đạt 14,4 triệu USD.

Đánh giá về tình hình xuất khẩu thủy sản nửa đầu năm, ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng, kết quả xuất khẩu chưa thực sự khả quan. Tuy nhiên, xuất khẩu đã giữ được tốc độ tăng trưởng trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức.

Bộ NN&PTNT nhận định: Trong nửa đầu năm, thị trường xuất khẩu tôm và cá tra có sự biến động mạnh. Tính đến thời điểm hiện nay, giá cá tra nguyên liệu tại các tỉnh ĐBSCL đã giảm trở lại xung quanh mức giá thấp như hồi tháng 2, sau khi tăng giá và giữ ở mức cao trong 2 tháng gần đây (tháng 4 và nửa đầu tháng 5). Với xu hướng này, trong ngắn hạn, thị  trường cá tra nguyên liệu sẽ vẫn khá trầm lắng khi chưa có dấu hiệu khởi sắc từ các đơn hàng ký mới xuất đi các thị trường chính như Mỹ, EU…

Đối với mặt hàng tôm, giá tôm nguyên liệu nhìn chung có xu hướng ổn định ở mức cao trong 6 tháng qua, trong bối cảnh nguồn cung nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu rất yếu, do điều kiện thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến việc thả nuôi của nông dân.

Ông Trương Đình Hòe cho rằng, việc tích cực thúc đẩy đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại (FTA) cũng là một trong các yếu tố tạo thuận lợi hơn cho xuất khẩu thủy sản, điển hình như FTA Việt Nam-Hàn Quốc. Với khả năng phục hồi của nền kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu thụ vẫn khả quan, dự báo trong năm nay xuất khẩu thủy sản sẽ đạt mục tiêu 7 tỷ USD đề ra.

Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm đạt 1.584 ngàn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất cá tra nửa đầu năm chưa có dấu hiệu phục hồi. Diện tích cá tra 6 tháng đầu năm của ĐBSCL ước đạt 3.757 ha, giảm 5,5% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch ước đạt 526.683 tấn, xấp xỉ so với cùng kỳ.

Về tôm, sản lượng thu hoạch tôm nước lợ của các tỉnh ĐBSCL 6 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ, dẫn  đến  thiếu  hụt  nguồn  cung  tôm  nguyên  liệu  phục  vụ  xuất khẩu, giá  tôm nguyên liệu tăng. Nhiều nhà máy chế biến chỉ hoạt động 50-60% công suất. Trước  tình  hình  đó, nhiều hộ nuôi tích cực cải  tạo ao đầm để thả tiếp hoặc thả bù những diện tích nuôi tôm đã bị thiệt hại. Trong hai tháng trở lại đây, diện tích nuôi tôm sú có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu thủy sản 5 tháng đầu năm 2016

ĐVT: USD

Thị trường

5T/2016

5T/2015

+/- (%) 5T/2016 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch

2.514.042.199

2.446.784.357

+2,75

Hoa Kỳ

519.021.248

473.009.064

+9,73

Nhật Bản

356.604.735

365.617.102

-2,46

Trung Quốc

246.690.318

165.552.119

+49,01

Hàn Quốc

205.238.924

214.484.544

-4,31

Thái Lan

92.586.322

85.249.392

+8,61

Đức

73.058.546

79.591.932

-8,21

Anh

72.913.445

67.116.245

+8,64

Hà Lan

64.062.268

66.479.425

-3,64

Australia

63.726.600

62.149.354

+2,54

Hồng Kông

59.737.976

58.752.703

+1,68

Canada

57.841.802

67.635.156

-14,48

Bỉ

49.163.574

39.577.387

+24,22

Italia

46.447.667

43.836.058

+5,96

Pháp

41.239.738

43.820.246

-5,89

Singapore

39.177.727

42.784.966

-8,43

Đài Loan

36.404.751

44.360.986

-17,94

Tây Ban Nha

35.351.944

36.975.821

-4,39

Braxin

32.684.486

15.273.632

+113,99

Malaysia

32.628.604

30.035.486

+8,63

Mexico

32.263.574

39.293.867

-17,89

Nga

30.507.247

32.281.005

-5,49

Philippines

27.775.520

21.190.906

+31,07

Ả Rập Xê út

24.415.567

27.574.536

-11,46

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

23.910.108

26.618.330

-10,17

Colombia

21.646.074

24.456.975

-11,49

Ai Cập

19.054.214

25.355.895

-24,85

Bồ Đào Nha

17.569.318

15.143.119

+16,02

Thuỵ Sĩ

13.019.147

16.882.818

-22,89

Israel

12.749.657

14.779.258

-13,73

Đan Mạch

9.703.908

11.329.883

-14,35

Ấn Độ

8.027.401

7.407.141

+8,37

NewZealand

7.797.339

7.429.772

+4,95

Thuỵ Điển

6.630.119

7.407.356

-10,49

Ucraina

5.212.239

2.808.656

+85,58

Pakistan

5.147.029

6.574.764

-21,72

Campuchia

5.104.689

6.897.619

-25,99

Cô Oét

4.866.736

5.151.249

-5,52

Ba Lan

4.858.096

6.682.347

-27,30

Séc

4.663.889

5.950.432

-21,62

I rắc

4.595.390

3.346.905

+37,30

Hy Lạp

4.140.688

4.239.345

-2,33

Rumani

2.464.611

1.776.228

+38,76

Indonesia

2.305.318

1.286.934

+79,13

Thổ Nhĩ Kỳ

2.074.209

3.107.453

-33,25

Brunei

511.932

542.258

-5,59