Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng đầu năm 2017, cả nước xuất khẩu 12,17 triệu tấn xi măng và clinker đạt 430,63 triệu USD (tăng 20,5% về lượng và tăng 13,2% so với cùng kỳ năm ngóai); trong đó riêng tháng 8/2017 xuất khẩu 1,38 triệu tấn xi măng và clinker, thu về gần 54,09 triệu USD (giảm 0,9% về lượng nhưng tăng 7% về kim ngạch so với tháng 7/2017).

Giá xi măng, clinker xuất khẩu trong tháng 8/2017 đạt trung bình 39,07 USD/tấn, tăng 8% so với tháng 7/2017 nhưng giảm 0,6% so với tháng 8/2016. Trong tháng 8 giá xi măng, clinker xuất khẩu sang thị trường các nước Đông Nam Á được giá cao khoảng trên 51 USD/tấn; trong đó, xuất sang Lào đạt mức giá cao nhất 69,2 USD/tấn, sang Phlippines cũng đạt mức khá cao 52,8 USD/tấn, Campuchia 52,3 USD/tấn. Ngược lại, xuất sang Malaysia đạt thấp nhất 29 USD/tấn, sang Trung Quốc và Bangladesh cũng chỉ được khoảng 31 USD/tấn.

Tính trung bình giá xi măng xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 2017 đạt 35,4 USD/tấn, giảm trên 6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó giá xuất trung bình sang Lào cao nhất 66,2 USD/tấn, sau đó là Campuchia 52,6 USD/tấn; còn xuất sang Kenya giá thấp, chỉ được 28,5 USD/tấn.

Bangladesh là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại xi măng, clinker của Việt Nam, với 4,91 triệu tấn trong 8 tháng đầu năm (tăng 56% so với cùng kỳ năm trước), trị giá 153,74 triệu USD (tăng 53% so với cùng kỳ);

Philipines - thị trường tiêu thụ lớn thứ 2, với 3,15 triệu tấn trong 8 tháng (tăng 28% so với cùng kỳ), trị giá 141,2 triệu USD (tăng 23% so với cùng kỳ).

Đáng chú ý là xi măng, clinker xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc 8 tháng đầu năm nay tăng rất mạnh, tăng 155% cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, mặc dù chỉ đạt 69.960 tấn, tương đương 2,17 triệu USD.

Ngược lại, xi măng clinker xuất khẩu sang Lào, Malaysia, Mozambic và Campuchia sụt giảm rất mạnh từ 27 – 46% cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Xuất khẩu xi măng 8 tháng đầu năm 2017

Thị trường

8T/2017

% so sánh với cùng kỳ

Tấn

USD

Lượng

Trị giá

Tổng kim ngạch

12.166.625

430.631.014

+20,53

+13,17

Bangladesh

4.908.784

143.740.829

+55,99

+52,58

Philippines

3.145.803

141.197.960

+28,18

+23,49

Đài Loan

660.955

19.492.280

+2,55

-10,38

Srilanca

423.887

12.505.503

+20,06

+15,12

Mozambic

400.009

11.740.687

-46,29

-45,22

Peru

392.543

18.453.196

+5,72

+5,86

Australia

322.929

10.823.144

+34,42

+25,53

Malaysia

310.362

9.785.134

-28,63

-33,68

Campuchia

158.548

8.335.800

-34,05

-37,04

Lào

120.052

7.952.319

-26,77

-31,26

Kenya

95.750

2.728.875

*

*

Trung Quốc

69.960

2.173.640

+155,05

+154,98

Myanmar

23.000

1.027.500

-13,80

-17,09

(Tính toán theo số liệu của TCHQ)