Hiện nay, cả nước có khoảng trên 1.000 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% tổng số các làng nghề trong cả nước. Riêng Hà Nội có 365 làng nghề và làng có nghề mây tre đan với gần 33.000 gia đình, gần 200 doanh nghiệp, hợp tác xã đang làm nghề, thu hút trên 100 nghìn lao với mức thu nhập bình quân đầu người đạt từ 35-40 triệu đồng/người/năm.
Ngành hàng này đã góp phần giá trị xuất khẩu, ngoài ra còn tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông thôn và người dân tộc thiểu số. Đến nay, các sản phẩm mây tre đan đã xuất khẩu trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ thế giới với kim ngạch xuất khẩu trung bình đạt trên 200 triệu USD/năm, chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong cả nước.
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu hàng sản phẩm từ mây, tre, cói và thảm của Việt Nam trong tháng 8/2018 tăng 2,8% so với tháng 7/2018 đạt 29,2 triệu USD – đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp. Nâng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 8 tháng đầu năm 2018 lên 219 triệu USD, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước.
EU là thị trường chủ lực nhập khẩu sản phẩm mây tre từ Việt Nam chiếm 32,5% tỷ trọng, đạt 71,3 triệu USD, tăng 17,57% so với cùng kỳ, mặc dù trong tháng 8/2018 sản phẩm mây, tre, đan của Việt Nam xuất sang Eu giảm 17,84% so với tháng 7/2018 chỉ đạt 7,7 triệu USD, nhưng tăng 5,52% so với tháng 8/2017.
Trong số những thị trường đạt kim ngạch trên 10 triệu USD trong 8 tháng đầu năm nay phải kể đến Mỹ, Nhật Bản, Đức và Hàn Quốc đều có tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó Mỹ tăng 24,01% đạt 43,8 triệu USD; Nhật Bản tăng 19,87% đạt 39,6 triệu USD; Đức tăng 5,18% đạt 18,8 triệu USD và Hàn Quốc twang 73,6% đạt 11,5 triệu USD.
Nhìn chung, thời gian này kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói của Việt Nam đều tăng trưởng ở hầu khắp các trường, đặc biệt xuất sang thị trường Ấn Độ tăng đột biến, tăng gấp hơn 15,8 lần (tức tăng 1479,12%) tuy chỉ đạt 3,4 triệu USD, riêng tháng 8/2018 giảm 6,22% so với tháng 7/2018 chỉ với 646,2 nghìn USD, nhưng so với tháng 8/2017 tăng gấp 16,2 lần (tức tăng 1520,96%).
Bên cạnh đó, xuất sang thị trường Nga cũng tăng mạnh, gấp hơn 3,4 lần (tức tăng 243,34%) đạt 1,2 triệu USD, tính riêng tháng 8/2018 tăng 63,83% so với tháng 7/2018 và tăng gấp 7,4 lần (tức tăng 636,92%) so với tháng 8/2017 đạt 400,9 nghìn USD.
Ở chiều ngược lại, thì xuất sang thị trường Hà Lan và Đài Loan sụt giảm, giảm lần lượt 23,32% và 2,63% tương ứng với 8,1 triệu USD; 4,4 triệu USD.

Thị trường xuất khẩu mây, tre, cói 8 tháng năm 2018

Thị trường

T8/2018 (USD)

+/- so với T7/2018 (%)*

8T/2018 (USD)

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*

Hoa Kỳ

4.804.329

-14,36

43.837.085

24,01

Nhật Bản

6.724.040

41,88

39.618.124

19,87

Đức

1.479.480

-28,73

18.897.243

5,18

Hàn Quốc

1.634.979

-15,12

11.544.278

73,6

Pháp

1.014.642

-24

9.879.133

61,61

Australia

1.668.602

23,1

9.601.019

37,48

Anh

1.049.746

-42,08

9.221.543

34,69

Trung Quốc

1.169.335

27,54

8.234.876

58,5

Hà Lan

705.484

-16,36

8.193.889

-23,32

Tây Ban Nha

988.704

-23,15

6.954.947

36,6

Thụy Điển

468.009

18,41

4.802.667

21,22

Canada

549.593

46,08

4.623.911

13,82

Đài Loan

770.469

33,12

4.414.143

-2,63

Italy

688.133

56,12

4.140.511

14,61

Bỉ

729.435

-2,59

3.990.543

65,3

Ấn Độ

646.275

-6,22

3.484.942

1,479,12

Ba Lan

385.686

24,64

2.926.848

40,13

Đan Mạch

238.902

30,91

2.384.812

25

Nga

400.941

63,83

1.279.448

243,34

Brazil

111.662

42,25

852.800

16,82


(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)